Ngô Việt
Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
| Ngũ Đại Thập Quốc |
|---|
| Ngũ Đại |
| nhà Hậu Lương |
| nhà Hậu Đường |
| nhà Hậu Tấn |
| nhà Hậu Hán |
| nhà Hậu Chu |
| Thập Quốc |
| Ngô |
| Ngô Việt |
| Mân |
| Nam Bình |
| Sở |
| Nam Đường |
| Nam Hán |
| Bắc Hán |
| Tiền Thục |
| Hậu Thục |
| Các quốc gia khác |
| Bắc Liêu |
| Bột Hải |
| Đại Lý |
| Đông Đan |
| Liêu |
| Nam Chiếu |
| Vu Điền |
| Yên (Ngũ đại) |
| Xem thêm |
| Lịch sử Trung Quốc |
Vương quốc Ngô Việt (tiếng Trung phồn thể: 吳越國; giản thể: 吴越国, bính âm: Wúyuè Guó), 907-978, là một vương quốc nhỏ độc lập, nằm ven biển, được thành lập trong thời kỳ Ngũ Đại Thập Quốc (907-960) trong lịch sử Trung Quốc. Nhà nước này do dòng họ Tiền cai trị, các dấu tích còn lại của nhà nước này vẫn còn khá phổ biến trong lãnh thổ trước đây của vương quốc.
Mục lục |
[sửa] Thành lập
Họ Tiền bắt đầu được phong làm tướng trong quân đội của nhà Đường từ năm 887. Tiền Lưu (852-932) đã được phong làm Việt vương năm 902, hai năm sau được phong thêm tước hiệu Ngô vương. Năm 907, nhà Đường sụp đổ và nhà Hậu Lương thay thế ở phía bắc thì các tướng lĩnh quân đội tại phương nam đã tạo ra các vương quốc của mình. Tiền Lưu cũng tự xưng là Ngô Việt vương. Sự kiện này đánh dấu sự khởi đầu của thời kỳ Ngũ Đại Thập Quốc, kéo dài cho đến khi nhà Tống ra đời vào năm 960.
[sửa] Tên gọi và lãnh thổ
Tên gọi Ngô Việt là sự kết hợp của hai chữ Ngô và Việt, tên gọi của hai quốc gia cổ đại trong thời kỳ Xuân Thu-Chiến Quốc, từ năm 770 TCN tới năm 221 TCN.
Kinh đô của Ngô Việt đặt tại Tây Phủ (nay là Hàng Châu), vương quốc này bao gồm lãnh thổ các tỉnh Chiết Giang, Thượng Hải, cùng phần phía nam tỉnh Giang Tô ngày nay. Sau này, vương quốc này có lẽ đã thu thêm được một số phần phía bắc của Phúc Kiến khi vương quốc Mân sụp đổ năm 945. Lãnh thổ của Ngô Việt gần như bao gồm toàn bộ lãnh thổ của nước Việt cổ đại, nhưng không phải nước Ngô cổ đại – điều này dẫn tới những lời cáo buộc của vương quốc láng giềng là Ngô (còn gọi là Nam Ngô) rằng Ngô Việt có mưu đồ đối với lãnh thổ của họ, và tên gọi này là nguồn gốc của các căng thẳng trong nhiều năm giữa hai quốc gia.
Trong những thập niên đầu tồn tại, Ngô Việt có biên giới với Mân ở phía nam, với Nam Đường ở phía bắc và phía tây. Với sự nổi loạn của Vương Duyên Chính (王延政) năm 943 để lập ra nước Ân, thì trong một thời gian ngắn (943-945), Ngô Việt còn có biên giới với tiểu quốc này. Tuy nhiên, kể từ sau năm 945 thì Nam Đường là nước duy nhất bao quanh (ngoại trừ phần giáp biển Đông Trung Hoa) Ngô Việt do cả Ân lẫn Mân đều bị Nam Đường tiêu diệt.
[sửa] Trị vì của Tiền Lưu
Dưới thời Tiền Lưu, Ngô Việt là nhà nước thịnh vượng về kinh tế và tự do phát triển nền văn hóa bản địa của mình. Điều đó còn được tiếp diễn đến tận ngày nay. Ông đã cho phát triển nông nghiệp vùng ven biển của vương quốc, xây dựng các đập ngăn nước biển, mở rộng Hàng Châu, nạo vét sông ngòi và các hồ nước, cũng như khuyến khích phát triển vận tải và thương mại đường biển. Tiền Lưu là người làm viẹc tận tuỵ, trên giường bệnh ông vẫn còn chủ trương giải quyết ôn hòa mọi công việc của nhà nước. Những lời nói của ông đã được các vị vua kế vị sau này tuân thủ chặt chẽ.
[sửa] Ngoại giao
Năm 935, Ngô Việt thiết lập quan hệ ngoại giao chính thức với Nhật Bản. Vương quốc này cũng nhân ưu thế gần biển của mình để duy trì quan hệ ngoại giao với miền bắc Trung Quốc, người Khiết Đan và Triều Tiên.
Là nước nhỏ yếu thời Ngũ Đại, bên ngoài, Ngô Việt tỏ ra thần phục Ngũ Đại cai trị ở trung nguyên và dùng niên hiệu của các vua thuộc các triều đại "chính thống" đó.
[sửa] Sụp đổ
Năm 978, đối mặt với nguy cơ bị tiêu diệt bởi sức mạnh hủy diệt của quân đội nhà Tống, vị vua cuối cùng của Ngô Việt là Tiền Thục, đã cam kết trung thành với nhà Tống, cứu vớt thần dân của ông khỏi phải gánh chịu các phá hủy trong kinh tế cũng như của nền hòa bình từ cuộc chiến có thể xảy ra này. Trong khi Tiền Thục về danh nghĩa vẫn là vương, nhưng Ngô Việt đã bị sáp nhập vào Tống, kết thúc sự tồn tại của vương quốc này. Ông qua đời năm 988.
[sửa] Di sản
[sửa] Văn hóa
Ngô Việt đã thắt chặt ưu thế kinh tế và văn hóa của khu vực Ngô-Việt tại Trung Quốc trong nhiều thế kỷ sau này cũng như tạo ra truyền thống văn hóa khu vực bền lâu và khác biệt với phần còn lại của Trung Quốc. Các nhà lãnh đạo của vương quốc là các nhà bảo trợ có tiếng cho Phật giáo cũng như cho các trang trí kiến trúc, đền miếu, các tượng tôn giáo có liên quan tới Phật giáo. Các khác biệt về văn hóa, đã bắt đầu phát triển trong thời kỳ này và còn tồn tại đến ngày nay, do người dân khu vực Ngô-Việt nói bằng phương ngữ gọi là tiếng Ngô (biến thái đáng chú ý nhất của nó là tiếng Thượng Hải), cũng như họ có các đặc điểm văn hóa khác biệt, như trong nghệ thuật ẩm thực.
[sửa] Cơ sở hạ tầng
Di sản vật thể mà vương quốc Ngô Việt để lại là sự hình thành của hệ thống các sông đào và kênh đào, cho phép khu vực này trở thành khu vực giàu có nhất về mặt nông nghiệp của Trung Quốc trong nhiều thế kỷ. Điều đó có thể nhận thấy qua một loạt các đền, miếu thờ Tiễn Lưu trong cả khu vực này, trong số đó nhiều đền miếu còn tồn tại đến ngày nay.
[sửa] Di sản cá nhân
Tiền Lưu còn được gọi là "Long vương" hay "Hải Long vương" do các kế hoạch trị thủy to lớn của ông với ý đồ "chế ngự" biển cả. Các vị vua của Ngô Việt vẫn tiếp tục có được sự nhìn nhận tích cực trong sử sách chính thống. Họ được quần chúng sùng kính và yêu mến là do các công trình điều tiết thủy lợi, đảm bảo cho sự thịnh vượng kinh tế trong khu vực, cũng như do sự chấp nhận thần phục nhà Tống, một lựa chọn không phải dễ dàng, nhưng nó đảm bảo cho cả quá trình thống nhất Trung Quốc được diễn ra suôn sẻ lẫn đảm bảo cho khu vực này không bị chiến tranh tàn phá.
Trong thời kỳ đầu của nhà Tống, họ Tiền đã từng được coi là chỉ đứng hàng thứ hai sau họ Triệu, là họ của hoàng tộc triều đại này, như được phản ánh trong Bách gia tính thời nhà Tống. Sau này, nhiều đền miếu đã được xây dựng khắp trong khu vực Ngô-Việt để tưởng niệm các vị vua của nhà nước này, và đôi khi người ta còn đến đây để cầu mưa gió thuận hòa cùng mùa màng bội thu. Nhiều đền miếu, được biết đến như là "miếu Tiền vương" hay "đền Tiền vương", còn tồn tại đến ngày nay, trong số đó được nhiều người đến viếng thăm nhất là ngôi miếu gần Tây Hồ ở Hàng Châu.
Người ta cho rằng Tiền Lưu có trên 100 con trai, do nhiều bà vợ và thê thiếp sinh ra. Dòng dõi của ông có ở khắp nơi trong lãnh thổ của vương quốc cổ này. Họ Tiền cũng là cực kỳ phổ biến trong khu vực. Một vài chi, nhánh được coi là "danh gia vọng tộc" trong khu vực họ sinh sống.[1]
[sửa] Các vị vua nước Ngô Việt
| Miếu hiệu (廟號) | Thụy hiệu (諡號) | Tự hiệu | Trị vì | Niên hiệu (年號), thời gian |
|---|---|---|---|---|
| Thái Tổ (太祖) | Vũ Túc Vương (武肅王) | Tiền Lưu (錢鏐) | 907-932 | Thiên Bảo (天寶) 908-923 |
| Thế Tông (世宗) | Văn Mục Vương (文穆王) | Tiền Nguyên Quyền? (錢元瓘) | 932-941 | Không tồn tại |
| Thành Tông (成宗) | Trung Hiến Vương (忠獻王) | Tiền Hoằng Tá (錢佐) | 941-947 | Không tồn tại |
| Không tồn tại | Trung Tốn Vương (忠遜王) | Tiền Hoằng Tông (錢倧) | 947 | Không tồn tại |
| Không tồn tại | Trung Ý Vương (忠懿王) | Tiền Thục (錢俶) | 947-978 | Không tồn tại |
[sửa] Tham khảo
[sửa] Ghi chú
- ^ Pan (1937)
[sửa] Chung
- Mote F.W. (1999). Imperial China (900-1800), 11, 15, 22-23, Nhà in Đại học Harvard. ISBN 0-674-01212-7.
- Pan Guangdan (1937). Prominent Families of Jiaxing in the Ming and Qing Dynasties, Thượng Hải: Nhà in Thương mại.

