Nạp Lan Tính Đức

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Nạp Lan Dung Nhược)
Bước tới: menu, tìm kiếm
Nạp Lan Tính Đức
納蘭性德

Chân dung Nạp Lan Tính Đức
Bút danh 楞伽山人
Công việc Nhà thơ, Cấm vệ quân
Ngôn ngữ Quảng Đông
Quốc gia Nhà Thanh
Học vấn Học sĩ
Giai đoạn sáng tác Thời kỳ đầu nhà Thanh
Thể loại Từ phú
Chủ đề Tình yêu, cõi chết, lịch sử, Phật giáo, âm nhạc, văn chương, thơ phú.
Con cái 3 con trai và nhiều con gái
Thân nhân Nạp Lan Minh Châu (cha)

Nạp Lan Tính Đức (Chữ Hán: 納蘭性德, phiên âm: Nalan Xing De), tên nguyên là Thành Đức (成德), tự Dung Nhược (容若), hiệu Lăng già sơn nhân 楞伽山人) (1655-1685) là một nhà thơ người Mãn Châu đời nhà Thanh trong lịch sử Trung Quốc. Ông được biết đến như là một tài năng văn chương, tài hoa nhưng yểu mệnh, được tôn là "Thanh sơn đệ nhất từ nhân" (Đệ nhất từ nhân đầu đời Thanh). Ông có nhiều tác phẩm để lại thắm đẫm nổi sầu bi, lụy khổ.

Mục lục

Thân thế [sửa]

Nạp Lan Tính Đức là người Mãn Châu của họ Nạp Lan thuộc Chính hoàng kỳ trong Bát kỳ Mãn Châu, ông là con của Đại học sĩ Nạp Lan Minh Châu (納蘭 明珠) tiến sĩ đời Khang Hy, quan Nhất đẳng thị vệ.

Ông sinh năm Thuận Trị thứ 11 (1655), giỏi cưỡi ngựa bắn cung lẫn tài năng văn chương, thơ phú. Khác với những người Mãn Châu khác, ông sinh ra trong gia đình quý tộc nên có thể chất yếu đuối và hay bệnh hoạn, ông bị bệnh mất năm Khang Hy thứ 21 (1685), khi mới 31 tuổi. Ông sinh vào thời kì Mãn Hán dung hợp, điển hình của thời đại mà hưng suy của gia đình quý tộc có liên hệ với Vương Triều quốc sự. Ông tuy theo hầu đế vương, lại hướng tới cuộc sống bình thản.

Tác phẩm [sửa]

Ông có để lại một số tác phẩm, trong đó thể hiện về cách nhìn đối với nhân sinh quan, thế giới quan sầu bi đa cảm, thống khổ, có thể nói ông có phong cách thơ kiểu giọng tự nhiên mà bi thảm, phảng phất như giọng Lý Hậu chủ đời Nam Đường[1]. Các tác phẩm có thể kể đến là

  • Bồ tát man
  • Thái tang tử kỳ
  • Thái tang tử kỳ 3
  • Kim lũ khúc - Tặng Lương Phần
  • Thái tang tử - Tái thượng vịnh tuyết hoa
  • Trường tương tư
  • Họa đường xuân

Toát lên trong thơ của ông là một chữ sầu, nhưng chữ sầu này xử lý tinh thế, một khung cảnh một nghĩa.

Cùng một tâm sự, hai mối tình sầu
Tình vì sầu nhiều, nở nụ cười
Tựa vào khung cửa, không thể sầu
Hát trước mộ phần, sầu chưa tan
Trời bắt ta sầu, vì đa tình
Mỗi một làn khói, một mối sầu
Nỗi sầu không đi, sắc thu khó giữ

Hoặc là bài thơ từ của ông cũng tóat lên một nổi sầu khó tả.

Ta là khách âu sầu nhân gian
Tri quân hà sự, lệ hai hàng
Trong tiếng đoạn trường nghĩ bình sinh.

Trong văn hóa [sửa]

Cuộc đời sầu bi của ông đã được khắc họa trong các bộ phim, điểm hình là bộ phim truyền hình Trung Quốc có tựa đề Yên Hoa Tam Nguyệt (bính âm: Yan Hua Xan Yue, tên tiếng Anh: Misty Love in Palace Place) do diễn viên Trần Hạo Dân thủ vai.

Bộ phim nói về những mối tình của ông, cùng tình bạn giữa Dung Nhược, Khang Hy và Sách Lạp Vượng (con của Sách vương gia) và những sự tranh chấp với vua Khang Hy về một tình yêu dành cho Thẩm Uyển. Nạp Lan Dung Nhược yêu Thẩm Uyển (Cao Viên Viên đóng), con gái của một phạm nhân triều đình và cũng là một người yêu thơ của ông, nhưng vua Khang Hy cũng yêu Thẩm Uyển (phát sinh trong cuộc du hành Giang Nam). Phim kết thúc bằng một kết cục buồn sầu, đó làm Thẩm Uyên bị chết vì cứu Khang Hi, Nạp Lan Dung nhược sầu thảm, xin ra trận đánh nhau với quân Cát Nhĩ Đan và có tin báo tử trận. Gia tộc của Minh Châu tiêu điều.

Tham khảo [sửa]

  • Bruce Carpenter 'Drinking Water; Lyric Songs of the Seventeenth Century Manchu Poet Na-lan Hsing-te' Bulletin of Tezukayama University (Tezukayama daigaku kiyo), Nara, Nhật Bản, năm 1983, no. 20, trang 100-137.

Xem thêm [sửa]

Chú thích [sửa]

  1. ^ Nguyễn Hiến Lê, Sử Trưng Quốc, chương 8