Nội các Nhật Bản

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Nội các
Kanji/Hán tự: 内閣
Kana: ないかく
Hán-Việt: Nội các
Rōmaji: Naikaku
Imperial Seal of Japan.svg
Bài này nằm trong loạt bài về:
Chính trị và chính phủ
Nhật Bản
Bài này viết về nhánh Hành pháp của chính quyền trung ương ở Nhật Bản. Về nhánh Lập pháp, xem bài Quốc hội Nhật Bản. Về nhánh Tư pháp, xem bài Tòa án Nhật Bản.

Nội các Nhật Bản (tiếng Nhật: 内閣, Naikaku | Nội các) là nhánh hành pháp của chính quyền ở Nhật Bản. Đứng đầu nội các là Thủ tướng (総理大臣, Sori Daijin | Tổng Lý Đại Thần). Giúp việc cho Thủ tướng là các Bộ trưởng (大臣, Daijin | Đại Thần). Thủ tướng do Quốc hội bổ nhiệm. Còn bổ nhiệm và miễn nhiệm các bộ trưởng sẽ thuộc quyền của Thủ tướng. Tập thể Nội các chịu trách nhiệm trước Quốc hội và phải từ chức hoặc xin Hoàng đế (Thiên hoàng)giải tán Hạ viện nếu bị Hạ viện mất tín nhiệm.

Nội các Nhật Bản hiện đại được thành lập theo Hiến pháp năm 1946 của Nhật Bản. Trước đây, thời kỳ Đại Nhật Bản Đế Quốc, Nội các được thành lập theo Hiến pháp Đại Nhật Bản Đế Quốc và là một cơ quan dưới quyền của Nhật hoàng.

Bổ nhiệm[sửa | sửa mã nguồn]

Biểu tượng của Thủ tướng Nhật Bản và Nội các Nhật Bản

Theo Hiến pháp, các Bộ trưởng được Thủ tướng lựa chọn và bổ nhiệm. Phần lớn thành viên của Nội các, bao gồm cả Thủ tướng phải là đại biểu của một trong hai viện thuộc Quốc hội và tất cả thành viên đều phải là dân sự. Theo Luật Nội các năm 2001, số lượng Bộ trưởng không được quá 14 người, tuy nhiên, trong trường hợp đặc biệt, vẫn có thể lên đến 17 người. Trong trường hợp Nội các từ chức tập thể, Nội các vẫn phải điều hành công việc cho đến khi có một Thủ tướng mới được bổ nhiệm. Trong khi tại nhiệm, các hoạt động pháp lý vẫn có thể chống lại các Bộ trưởng mà không cần có sự đồng ý của Thủ tướng.

Nội các phải từ chức tập thể trong những trường hợp sau:

  • Khi bị Hạ viện bỏ phiếu quyết định bất tín nhiệm, trừ phi Hạ viện giải tán trong vòng 10 ngày;
  • Tùy theo quyết định trong lần nhóm họp đầu tiên của Quốc hội khi Hạ viện mới được bầu ra qua tổng tuyển cử (ngay cả khi toàn bộ bộ trưởng sau đó được tái bổ nhiệm);
  • Khi vị trí Thủ tướng bị bỏ trống, hoặc khi Thủ tướng tuyên bố ý định từ chức.

Quyền lực của Nội các[sửa | sửa mã nguồn]

Nội các Nhật Bản có thể hành xử hai loại quyền lực. Một loại thực hiên thông qua Nhật hoàng theo thỉnh cầu và tư vấn của Nội các. Một loại nữa do Nội các trực tiếp thực hiện. Trái với nhiều nước theo chế độ quân chủ lập hiến khác, hoàng đế Nhật Bản không phải là nguyên thủ quốc gia về ngành hành pháp. Hiến pháp Nhật Bản đã trao toàn bộ công việc hành pháp cho Nội các.

Các quyền lực thực hiện qua Nhật hoàng[sửa | sửa mã nguồn]

  • Triệu tập Quốc hội
  • Giải tán Hạ viện
  • Tuyên bố tổng tuyển cử Quốc hội
  • Tiến hành các nghi lễ.

Các quyền lực tuyệt đối[sửa | sửa mã nguồn]

  • Thực thi pháp luật
  • Chính sách đối ngoại
  • Ký kết các hiệp ước (với sự phê chuẩn của Quốc hội)
  • Quản lý các dịch vụ công cộng
  • Lập dự toán ngân sách trung ương (phải được Quốc hội phê chuẩn)
  • Phê chuẩn các nghị định của Nội các
  • Quyết định đại xá, đặc xá, phạt, giảm tội, khôi phục quyền
  • Tất cả các luật và nghị định Nội các đều do Bộ trưởng liên quan ký

Nội các hiện tại[sửa | sửa mã nguồn]

Nội các Abe

Nội các quá khứ[sửa | sửa mã nguồn]

Nội các Noda

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]