NSV

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
NSV
NSVT (2).JPG
Khẩu NSVT gắn trên chiếc APC của Phần Lan
Loại Súng máy hạng nặng
Nguồn gốc  Liên Xô
Lược sử hoạt động
Trang bị 1971 – Nay
Quốc gia sử dụng Xem các nước sử dụng
Sử dụng trong
Lược sử chế tạo
Nhà thiết kế G.I. Nikitin, Y.S. Sokolov, V.I. Volkov
Năm thiết kế 1969
Các biến thể NSVT
Thông số kỹ chiến thuật
Khối lượng
  • 25 kg (chỉ có súng)
  • 41 kg (với bệ chống ba chân)
  • 11 kg (dây đạn 50 viên)
Chiều dài 1.560 mm

Đạn 12,7x108mm
Cơ cấu hoạt động Nạp đạn bằng khí nén
Tốc độ bắn 700–800 viên/phút
Sơ tốc 845 m/s
Tầm bắn hiệu quả
  • 1,5 km khi phòng không
  • 2 km khi tấn công các mục tiêu mặt đất
Cơ cấu nạp Dây đạn 50 viên

NSV (tiếng Nga: НСВ viết tắc của Никитина-Соколова-Волкова) là một loại súng máy hạng nặng sử dụng loại đạn 12.7x108mm của Liên Xô, được thiết kế bởi G. I. Nikitin (Г. И. Никитин), Y. S. Sokolov (Ю. М. Соколов) và V. I. Volkov (В. И. Волков). NSV được thiết kế để thay thế khẩu DShK và đã được đưa vào sử dụng trong quân đội Liên Xô năm 1971. Nó đã bị cho ra khỏi biên chế vì bị thay thế bởi súng máy hạng nặng Kord và không còn được sản xuất tại Nga. Bản quyền sản xuất NSV được trao cho Kazakhstan sau khi Liên Xô tan rã. NSV được sản xuất tại Bulgaria, Ấn Độ, Ba LanYugoslavia dưới giấy phép sản xuất có bản quyền.

NSV có trọng lượng 55 kg và có tốc độ bắn 13 viên/giây với tầm hiệu quả là 1.500 m. Dây đạn 50 viên đầy đạn của nó có trọng lượng 11 kg.

NSV thường được gắn trên xe tăng T-72 trong khi phiên bản NSVT gắn trên xe tăng T-64T-80.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Quân đội Xô Viết bắt đầu tìm kiếm một loại súng máy hạng nặng mới thay thế cho các khẩu SG-43 GoryunovRPD vào đầu những năm 1950. Quân đội Xô Viết thích một thiết kế giống như khẩu MG 42 của Đức một loại vũ khí đa năng có thể gắn ở bất cứ đâu vào chiến đấu trong nhiều tình huống. Hai nhà thiết kế vũ khí đã được nhờ để thiết kế một loại vũ khí có thể tận dụng mọi nguyên tắc tưng ứng.

Tuy nhiên có một mẫu khác được thí nghiệm và đã được phê duyệt do Mikhail Kalashnikov phát triển, nó được đánh giá là rẻ và đáng tin cậy hơn thiết kế của Grigory Nikitin và Yuri Sokolov. Mẫu súng máy của Kalashnikov đã trở thành loại súng máy tiêu chuẩn và được đặc tên là PK.

Dù vậy thiết kế của Nikitin và Sokolov không bị lãng quên. Nó được chuyển thành súng máy hạng nặng NSV 10 năm sau đó và trở thành loại thay thế cho DShK/DShKM. Nó được đưa vào phục vụ trong quân đội Xô Viết năm 1971. bản quyền chế tạo loại súng này cũng được trao cho Bulgaria, Ấn Độ, Ba LanYugoslavia. Phiên bản sản xuất tại Yugoslavian có tên Zastava M87.

Sau khi Liên Xô tan rã, bản quyền sản xuất NSV thuộc về UkrainaKazakhstan. Do quân đội Nga cần một loại súng máy hạng nặng chính xác hơn và việc tìm các phụ tùng thay thế cho NSV khá khó vì Nga không còn bản quyền sản xuất, họ đã tự thiết kế và sản xuất súng máy hạng nặng Kord để thay thế NSV trong biên chế.

Các biến thể[sửa | sửa mã nguồn]

  • M87 NSVT mẫu sản xuất ở Serbian bởi Zastava Arms. M87 được thấy sử dụng trong quân đội Yugoslav.
  • WKM-B mẫu do Ba Lan sản xuất sử dụng loại đạn .50 BMG tiêu chuẩn của NATO.

Các nước sử dụng[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]