NSV
| NSV | |
|---|---|
Khẩu NSVT gắn trên chiếc APC của Phần Lan |
|
| Loại | Súng máy hạng nặng |
| Nguồn gốc | |
| Lược sử hoạt động | |
| Trang bị | 1971 – Nay |
| Quốc gia sử dụng | Xem các nước sử dụng |
| Sử dụng trong | |
| Lược sử chế tạo | |
| Nhà thiết kế | G.I. Nikitin, Y.S. Sokolov, V.I. Volkov |
| Năm thiết kế | 1969 |
| Các biến thể | NSVT |
| Thông số kỹ chiến thuật | |
| Khối lượng |
|
| Chiều dài | 1.560 mm (61,4 in) |
|
|
|
| Đạn | 12.7x108mm |
| Cơ cấu hoạt động | Nạp đạn bằng khí nén |
| Tốc độ bắn | 700–800 viên/phút |
| Sơ tốc | 845 m/s |
| Tầm bắn hiệu quả |
|
| Cơ cấu nạp | Dây đạn 50 viên |
NSV (tiếng Nga: НСВ viết tắc của Никитина-Соколова-Волкова) là một loại súng máy hạng nặng sử dụng loại đạn 12.7x108mm của Liên Xô, được thiết kế bởi G. I. Nikitin (Г. И. Никитин), Y. S. Sokolov (Ю. М. Соколов) và V. I. Volkov (В. И. Волков). NSV được thiết kế để thay thế khẩu DShK và đã được đưa vào sử dụng trong quân đội Liên Xô năm 1971. Nó đã bị cho ra khỏi biên chế vì bị thay thế bởi súng máy hạng nặng Kord và không còn được sản xuất tại Nga. Bản quyền sản xuất NSV được trao cho Kazakhstan sau khi Liên Xô tan rã. NSV được sản xuất tại Bulgaria, Ấn Độ, Ba Lan và Yugoslavia dưới giấy phép sản xuất có bản quyền.
NSV có trọng lượng 55 kg và có tốc độ bắn 13 viên/giây với tầm hiệu quả là 1.500 m. Dây đạn 50 viên đầy đạn của nó có trọng lượng 11 kg.
NSV thường được gắn trên xe tăng T-72 trong khi phiên bản NSVT gắn trên xe tăng T-64 và T-80.
Mục lục |
Lịch sử [sửa]
Quân đội Xô Viết bắt đầu tìm kiếm một loại súng máy hạng nặng mới thay thế cho các khẩu SG-43 Goryunov và RPD vào đầu những năm 1950. Quân đội Xô Viết thích một thiết kế giống như khẩu MG 42 của Đức một loại vũ khí đa năng có thể gắn ở bất cứ đâu vào chiến đấu trong nhiều tình huống. Hai nhà thiết kế vũ khí đã được nhờ để thiết kế một loại vũ khí có thể tận dụng mọi nguyên tắc tưng ứng.
Tuy nhiên có một mẫu khác được thí nghiệm và đã được phê duyệt do Mikhail Kalashnikov phát triển, nó được đánh giá là rẻ và đáng tin cậy hơn thiết kế của Grigory Nikitin và Yuri Sokolov. Mẫu súng máy của Kalashnikov đã trở thành loại súng máy tiêu chuẩn và được đặc tên là PK.
Dù vậy thiết kế của Nikitin và Sokolov không bị lãng quên. Nó được chuyển thành súng máy hạng nặng NSV 10 năm sau đó và trở thành loại thay thế cho DShK/DShKM. Nó được đưa vào phục vụ trong quân đội Xô Viết năm 1971. bản quyền chế tạo loại súng này cũng được trao cho Bulgaria, Ấn Độ, Ba Lan và Yugoslavia. Phiên bản sản xuất tại Yugoslavian có tên Zastava M87.
Nga đã ngừng chế tạo NSV và thay thế bằng súng máy hạng nặng Kord. Do quân đội Nga cần một loại súng máy hạng nặng chính xác hơn và việc tìm các phụ tùng thay thế cho NSV khá khó. Việc sản xuất NSV đã được quyết định giao lại cho Ukraina và Kazakhstan khi Liên Xô tan rã.
Các biến thể [sửa]
- M87 NSVT mẫu sản xuất ở Serbian bởi Zastava Arms. M87 được thấy sử dụng trong quân đội Yugoslav.
- WKM-B mẫu do Ba Lan sản xuất sử dụng loại đạn .50 BMG tiêu chuẩn của NATO.
Các nước sử dụng [sửa]
Liên Xô
Algérie
Angola
Armenia
Azerbaijan
Ai Cập
Ấn Độ
Ba Lan
Belarus
Bosna và Hercegovina
Bungary
Campuchia
Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên
Cộng hòa Macedonia
Cộng hòa Séc
Serbia
Croatia
Ethiopia
Gruzia
Hoa Kỳ
Hungary
Iran
Iraq
Kazakhstan
Kyrgyzstan
Kuwait
Libya
Malaysia
Maroc
Mông Cổ
Myanmar
Nam Phi
Nga
Pakistan
Phần Lan
Romania
Slovakia
Syria
Tajikistan
Turkmenistan
Ukraina
Uzbekistan
Việt Nam
Yemen