Nagato (lớp thiết giáp hạm)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Nagato Japanese Battleship LOC 32962.jpg
Thiết giáp hạm Nagato
Khái quát về lớp tàu
Tên gọi: Lớp thiết giáp hạm Nagato
Xưởng đóng tàu: Xưởng hải quân Kure
Xưởng đóng tàu Yokosuka
Bên sử dụng: Naval Ensign of Japan.svg Hải quân Đế quốc Nhật Bản
Lớp trước: Ise
Lớp sau: Yamato
Thời gian đóng: 1917 - 1921
Hoàn tất: 2
Bị mất: 2
Đặc điểm khái quát
Kiểu: Thiết giáp hạm
Trọng tải choán nước: 32.720 tấn (tiêu chuẩn);
42.850 tấn (đầy tải thời chiến)
Độ dài: 221,03 m (725 ft 2 in)
215,79m (708 ft) lúc hạ thủy
Sườn ngang: 34,59 m (113 ft 6 in)
29m (95 ft) lúc hạ thủy
Mớn nước: 9,50 m (31 ft 2 in)
Động cơ đẩy: 4 × Turbine hơi nước,
4 × trục,
80.000 mã lực (60 MW)
Tốc độ: 50 km/h (27 knot)
Tầm xa: 10.200 km ở tốc độ 30 km/h
(5.500 hải lý ở tốc độ 16 knot)
Thủy thủ đoàn: 1.368
Vũ trang: 8 × pháo 410 mm (16,1 inch)
20 (sau này còn 18) × pháo 140 mm (5,5 inch)
8 × pháo phòng không 127 mm (5 inch)
Cho đến 98 × pháo phòng không 25 mm
Bọc giáp: Sàn tàu: 146-248 mm (5,8-9,8 inch)
Tháp súng: 229-508 mm (9-20 inch)
Đai giáp: 305 mm (12 inch)
Máy bay mang theo: 3

Lớp thiết giáp hạm Nagato (tiếng Nhật: 長門型戦艦; Rōmaji: Nagato-gata senkan; phiên âm Hán-Việt: Trường Môn hình chiến hạm) bao gồm hai thiết giáp hạm của Hải quân Đế quốc Nhật Bản hoạt động từ sau Chiến tranh Thế giới thứ nhất cho đến Chiến tranh Thế giới thứ hai. Cái tên Nagato được đặt theo tỉnh Nagato. Hai chiếc trong lớp: Mutsu bị mất sau một vụ nổ bí ẩn tại chính quốc Nhật Bản năm 1943, trong khi Nagato sống sót cho đến hết Thế Chiến II, và bị người Mỹ sử dụng làm mục tiêu thử nghiệm bom nguyên tử tại đảo san hô Bikini vào năm 1946.

Thiết kế[sửa | sửa mã nguồn]

Sơ đồ từ mạn phải và sàn tàu như được mô tả trong Brassey's Naval Annual 1923
Bản vẽ chiếc Nagato như nó hiện hữu vào năm 1944.

Dựa trên kiểu mẫu của lớp Ise, đây là những chiếc thiết giáp hạm đầu tiên trên thế giới trang bị hải pháo hạng 410 mm (16 inch), và lớp vỏ giáp bảo vệ cùng tốc độ tối đa có thể đạt được khiến cho chúng trở thành những tàu chiến chủ lực mạnh nhất vào lúc đưa ra hoạt động.

Do những giới hạn của Hiệp ước Hải quân Washington không cho phép các cường quốc về hải quân đóng thêm tàu chiến chủ lực mới, những chiếc trong lớp Nagato được cải biến và hiện đại hóa đáng kể trong những năm 19201930. Chúng trở thành những thiết giáp hạm cuối cùng do Nhật Bản chế tạo cho đến khi xuất hiện lớp siêu thiết giáp hạm Yamato vào cuối những năm 1930.

Tái cấu trúc[sửa | sửa mã nguồn]

Từ năm 1934 đến năm 1936, cả hai chiếc trong lớp Nagato được tái cấu trúc nên giống những chiếc thuộc các lớp FuseIse. Đuôi tàu được kéo dài thêm đưa chiều dài lên 224,6 m (737 ft), các đai giáp chống ngư lôi được bổ sung khiến gia tăng mạn tàu từ 28,9 m (95 ft) lên 34,6 m (113 ft 6 in), một đáy tàu thứ ba được trang bị, hai khẩu pháo 5,5 inch và các khẩu phòng không 3 inch được thay thế bởi bốn tháp pháo phòng không 5-inch nòng đôi và 10 khẩu 25 mm nòng đôi; và những lò đốt hỗn hợp than-dầu được thay thế bởi 10 nồi hơi đốt dầu.[1]

Lịch sử hoạt động[sửa | sửa mã nguồn]

Một khẩu pháo của chiếc Mutsu được trưng bày tại Bảo tàng YamatoKure.

Cả hai chiếc trong lớp đều được sử dụng rộng rãi trong Chiến tranh Thế giới thứ hai, và không có chiếc tàu bị đánh chìm do các hoạt động thù nghịch của đối phương. Mutsu bị phá hủy bởi một vụ nổ trong lòng tàu, trong khi Nagato là thiết giáp hạm duy nhất còn sống sót của Nhật Bản khi Thế chiến II kết thúc. Nagato bị người Mỹ sử dụng làm mục tiêu để thử nghiệm bom nguyên tử tại đảo san hô Bikini vào năm 1946.

Những chiếc trong lớp[sửa | sửa mã nguồn]

Tên gọi Đặt lườn Hạ thủy Hoạt động Số phận
Nagato
(長門)
28 tháng 8 năm 1917 9 tháng 11 năm 1919 15 tháng 11 năm 1920 Bị chìm sau thử nghiệm hạt nhân "Baker" tại đảo san hô Bikini, 25 tháng 7 năm 1946
Mutsu (陸奥) 1 tháng 6 năm 1918 31 tháng 5 năm 1920 24 tháng 10 năm 1921 Bị chìm sau một vụ nổ, 8 tháng 6 năm 1943

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Phương tiện liên quan tới Nagato class battleship tại Wikimedia Commons

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Ireland, Bernard (1996). Jane's Battleships of the 20th Century. London: Harper Collins. tr. 76–77. ISBN 0-00-470997-7.