Nam Đại Dương

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Nam Băng Dương)
Bước tới: menu, tìm kiếm
Năm đại dương của Trái Đất

Nam Đại Dương là một vùng nước bao quanh một châu lục là châu Nam Cực. Nó là đại dương lớn thứ tư và được xác định muộn nhất, chỉ được chấp thuận bằng quyết định của Tổ chức thủy văn quốc tế (IHO) năm 2000, mặc dù thuật ngữ này đã được sử dụng rất lâu và mang tính truyền thống trong các nhà hàng hải. Sự thay đổi này phản ánh những phát kiến gần đây trong lĩnh vực hải dương học về tầm quan trọng của các dòng hải lưu. Trước đây thì Đại Tây Dương, Thái Bình DươngẤn Độ Dương được coi là mở rộng tới tận châu Nam Cực, định nghĩa này hiện nay vẫn còn được một số tổ chức địa lý sử dụng, trong đó có cả Hiệp hội Địa lý Quốc gia (NGS) của Mỹ.

Nam Đại Dương

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Nhiều bản đồ của Australia chỉ ra Nam Đại Dương như là đại dương nằm ngay phía nam Australia.

Ấn bản lần thứ 2 (năm 1937) của IHO Limits of Oceans and Seas có đưa vào Nam Đại Dương; tuy nhiên, nó lại không xuất hiện trong ấn bản lần thứ ba (năm 1953) do sự biến động các giới hạn thủy văn phía bắc của nó theo mùa và do các nhà khoa học cảm thấy rằng một đại dương nên được định nghĩa như là "vùng nước bao quanh bởi đất" chứ không phải "vùng nước bao quanh đất". Các tổ chức thủy văn của từng quốc gia thành viên riêng rẽ đã định nghĩa các ranh giới của chính họ cho đại dương này; ví dụ Vương quốc Anh sử dụng vĩ tuyến 55° nam.[1]

IHO lại đưa vấn đề này ra năm 2000. Trong số 68 quốc gia thành viên thì 28 có phản ứng và gần như tất cả các thành viên có phản ứng, ngoại trừ Argentina, đã đồng ý định nghĩa một đại dương mới. Đề xuất cho tên gọi Southern Ocean (Nam Đại Dương) được 18 phiếu, vượt xa tên gọi đề xuất thứ hai là Antarctic Ocean (Nam Băng Dương/đại dương Nam Cực). Một nửa số phiếu ủng hộ cho việc kết thúc đại dương này tại 60° vĩ nam (mà không có các gián đoạn đất liền tại vĩ tuyến này), với 14 phiếu khác cho các định nghĩa khác, chủ yếu là 50° vĩ nam, nhưng có một số phiếu cho vĩ độ xa về phía bắc tới 35° vĩ nam.

Một số các nguồn khác, như Hiệp hội Địa lý Quốc gia Hoa Kỳ (NGS) vẫn tiếp tục thể hiện Đại Tây Dương, Thái Bình DươngẤn Độ Dương như là các đại dương trải rộng tới sát bờ biển châu Nam Cực.

Địa lý[sửa | sửa mã nguồn]

Khu vực bị đóng băng dao động theo từng năm.

Về mặt địa lý hải dương học nó được định nghĩa như là một đại dương gắn liền với hải lưu vòng Nam Cực, là hải lưu lưu thông xung quanh châu Nam Cực. Nó bao gồm biển Amundsen, biển Bellingshausen, một phần của hành lang Drake, biển Ross, một phần nhỏ của biển Scotiabiển Weddell. Tổng diện tích của nó là 20.327.000 km² và đường bờ biển kéo dài 17.968 km.

Các tọa độ địa lý của nó về danh nghĩa là 65°00′ nam và 0°00′ đông, nhưng Nam Đại Dương có nét đặc biệt duy nhất do người ta vẫn coi nó như là một vùng nước lưu thông lớn có dạng vòng tròn bao quanh châu Nam Cực; vòng tròn này nằm giữa vĩ tuyến 60° nam và bờ biển của châu Nam Cực cũng như nó chứa đựng đủ 360° tính theo kinh độ.

Tuy nhiên, định nghĩa này không phải là phổ biến. Tại Úc thì Nam Đại Dương được định nghĩa giống như định nghĩa của IHO nhưng có bao gồm toàn bộ vùng nước còn lại nằm giữa châu Nam Cực và các bờ biển phía nam của Úc và New Zealand cũng như được thể hiện trên bản đồ giống như vậy. Cụ thể, các bản đồ bờ biển của TasmaniaNam Úc luôn luôn đánh dấu các khu vực biển là Nam Đại Dương mà không bao giờ là Ấn Độ Dương.

Bản đồ chỉ ra định nghĩa của Úc về Nam Đại Dương (định dạng PDF)

Nam Đại Dương được hình thành về mặt địa lý hải dương học khi châu Nam Cực và Nam Mỹ chuyển động ra xa tạo ra hành lang Drake và hải lưu vòng Nam Cực đã được tạo ra khoảng 30 triệu năm trước, điều này làm cho đại dương này trẻ hơn nhiều so với các đại dương khác.

Điểm được lựa chọn chủ yếu là hành lang Drake. Frông vùng cực (vùng hội tụ Nam Cực) là định nghĩa tự nhiên tốt nhất cho sự mở rộng về hướng bắc của Nam Đại Dương; nó là khu vực đặc biệt ở giữa dòng hải lưu quanh châu Nam Cực làm tách bạch các vùng nước rất lạnh ở bề mặt xung quang vùng cực ở phía nam với các vùng nước ấm ở phía bắc; frông và hải lưu mở rộng xung quanh toàn bộ châu Nam Cực, đạt tới phía nam của vĩ tuyến 60° nam gần New Zealand và gần với 48° nam khi nam Đại Tây Dương trùng khớp với đường cực đại của các luồng gió tây.

Khí hậu[sửa | sửa mã nguồn]

Nhiệt độ nước biển dao động từ 28 đến 50°F (-2 đến 10°C). Các trận bão, gió xoáy di chuyển theo hướng đông xung quanh châu Nam Cực và thông thường là mạnh do sự chênh lệch nhiệt độ giữa các vùng đóng băng và đại dương. Khu vực đại dương từ khoảng vĩ tuyến 40° nam cho tới vòng Cực Nam về trung bình là có các trận gió mạnh nhất trên Trái Đất. Về mùa đông đại dương bị đóng băng tới vĩ tuyến 65° nam ở khu vực Thái Bình Dương và 55° nam ở khu vực Đại Tây Dương, làm hạ nhiệt độ bề mặt xuống dưới 0 °C; tại một số điểm bờ biển do gió thổi liên tục từ phía trong đã làm cho đường bờ biển không bị đóng băng trong mùa đông.

Địa hình[sửa | sửa mã nguồn]

Nam Đại Dương là một đại dương khá sâu với độ sâu từ 4.000 đến 5.000 mét tại phần lớn các khu vực của nó, với một diện tích hữu hạn các vùng nước nông. Thềm lục địa Nam Cực nói chung là hẹp và sâu bất thường, các gờ của nó nằm ở độ sâu từ 400 đến 800 m (trung bình toàn cầu chỉ khoảng 133 m). Các vùng đóng băng của Nam Cực dao động từ ít nhất là 2,6 triệu km² vào tháng 3 tới khoảng 18,8 triệu km² vào tháng 9, gấp khoảng 7 lần khi nhỏ nhất. Dòng hải lưu quanh châu Nam Cực (dài 21.000 km) chuyển động liên tục về hướng đông; nó là dòng hải lưu lớn nhất thế giới, đem theo 130 triệu m³ nước trên giây - 100 lần lớn hơn lưu lượng của tất cả các dòng sông trên thế giới.

Các cao độ[sửa | sửa mã nguồn]

  • Điểm thấp nhất: -7.235 m tại phần phía nam của rãnh Sandwich Nam, tại 60°00' nam, 0°24' tây
  • Điểm cao nhất: mực nước biển 0 m

Các nguồn tài nguyên thiên nhiên[sửa | sửa mã nguồn]

Các nguy hiểm tự nhiên[sửa | sửa mã nguồn]

Các núi băng khổng lồ cao tới vài trăm mét; các phần tách ra của các núi băng hay các đồi băng; các lớp băng trên mặt biển (nói chung dày 0,5 tới 1 m), đôi khi có các biến động ngắn hạn và với sự dao động mạnh trong năm hay giữa các năm; thềm lục địa sâu được bao phủ bởi các trầm tích từ thời kỳ băng hà dao động mạnh trên một khoảng cách nhỏ; gió to và sóng lớn trong nhiều thời gian của năm; việc vận tải gặp khó khăn do bị băng che phủ, đặc biệt từ tháng 5 đến tháng 10; phần lớn các khu vực là thiếu các nguồn tìm kiếm và cứu hộ.

Môi trường[sửa | sửa mã nguồn]

Các vấn đề hiện tại[sửa | sửa mã nguồn]

  • Sự tăng cường của bức xạ tia cực tím từ Mặt Trời tạo ra lỗ thủng ôzôn trên bầu trời Nam Cực đã làm suy giảm khả năng sinh sản của thực vật phù du tới 15% và làm tổn thương DNA của một số loài cá.
  • Việc đánh bắt hải sản bất hợp pháp, không báo cáo và không điều tiết, đặc biệt là sự đánh bắt loài cá vược Patagoni (Dissostichus eleginoides) từ 5 đến 6 lần nhiều hơn mức cho phép đã ảnh hưởng tới khả năng duy trì của loài này.
  • Tỷ lệ tử vong cao của các loài chim biển do các lưới đánh bắt hải sản lớn.
  • Quần thể hải cẩu lông (phân họ Arctocephalinae) hiện nay được bảo vệ nhưng vẫn đang suy giảm số lượng do sự khai thác cạn kiệt trong các thế kỷ 1819.

Các hiệp ước quốc tế[sửa | sửa mã nguồn]

Nam Đại Dương là chủ thể của mọi hiệp ước quốc tế liên quan tới các đại dương trên thế giới. Ngoài ra, nó còn là chủ thể của các thỏa ước liên quan tới khu vực như: Ủy ban nghề săn cá voi quốc tế (cấm săn bắt cá voi cho mục đích thương mại ở phía nam của vĩ tuyến 40° nam (ở phía nam của vĩ tuyến 60° nam trong khu vực nằm giữa 50° tới 130° tây); Hiệp ước về bảo tồn hải cẩu Nam Cực (giới hạn việc săn bắt); Hiệp ước về bảo tồn các nguồn sinh vật biển Nam Cực (điều tiết việc đánh cá)...

Tổng quan về kinh tế[sửa | sửa mã nguồn]

Nghề đánh bắt hải sản trong vụ 1998-1999 (1 tháng 7 tới 30 tháng 6) đánh bắt 119.898 tấn, trong đó 85% là các loài nhuyễn thể và 14% là cá vược Patagoni. Các hiệp ước quốc tế đã được thông qua cuối năm 1999 để làm giảm việc đánh bắt hải sản bất hợp pháp, không thông báo và không điều tiết. Trong mùa hè 1998-1999 đã có 10.013 du khách tới châu Nam Cực, phần lớn trong số họ là đi theo đường biển để tới thăm Nam Đại Dương và châu Nam Cực, so với chỉ có 9.604 trong mùa trước. Gần 16.000 du khách đã tới trong mùa 1999-2000.

Các cảng và cầu cảng[sửa | sửa mã nguồn]

Căn cứ Esperanza, trạm Mawson, trạm McMurdo, trạm Palmer, căn cứ Scott và các chỗ neo tàu xa bờ ở Nam Cực.

  • Lưu ý: Có rất ít cảng và cầu cảng tồn tại ở phía nam của Nam Đại Dương; các điều kiện băng giá đã giới hạn việc sử dụng chúng chỉ trong thời gian giữa mùa hè ngắn ngủi; thậm chí ngay cả thời gian đó thì một số cảng cũng không thể vào được nếu không có tàu phá băng đi kèm; phần lớn các cảng Nam Cực được điều hành bởi các trạm nghiên cứu của nhà nước một số quốc gia và ngoại trừ trường hợp khẩn cấp thì không mở cho các tàu thuyền cá nhân hay thương mại; các tàu thuyền ở bất kỳ cảng nào nằm ở phía nam vĩ tuyến 60° nam đều là chủ thể của việc kiểm tra theo Hiệp ước châu Nam Cực.

Vận tải[sửa | sửa mã nguồn]

Hành lang Drake tạo ra một lối đi khác để vận chuyển theo đường hàng hải đối với kênh đào Panama.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Ghi chú[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Limits of Oceans and Seas (Special publication No. 28) (ấn bản 3). Monte-Carlo: International Hydrographic Organization. 1953. tr. trang 4. Truy cập ngày 30 tháng 4 năm 2007. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]