Nam quốc sơn hà

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Nam quốc sơn hà (Chữ Hán: 南國山河[1]) là một bài thơ, hiện còn khuyết danh tác giả, được sáng tác theo thể thất ngôn tứ tuyệt. Đây là bài thơ nổi tiếng trong lịch sử Việt Nam, được coi là bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên của Việt Nam.[2][3] Bài thơ được cho là bài thơ thần [4], do thần đọc giúp Lê Hoàn chống quân Tống năm 981[5] và Lý Thường Kiệt chống quân Tống năm 1077.

Văn bản[sửa | sửa mã nguồn]

Trên thư tịch cổ[sửa | sửa mã nguồn]

Nội dung bài thơ "Nam quốc sơn hà" trên Mộc bản triều Nguyễn là bản bản khắc gỗ cổ nhất bài thơ này còn lại cho đến ngày nay. Nội dung phiên bản này thống nhất với bản bài thơ trong Đại Việt sử ký toàn thư[6].

Nguyên bản chữ Hán[6]:
南國山河
南 國 山 河 南 帝 居
截 然 分 定 在 天 書
如 何 逆 虜 來 侵 犯
汝 等 行 看 取 敗 虛
Bản phiên âm Hán-Việt:
Nam quốc sơn hà
Nam quốc sơn hà Nam đế cư,
Tiệt nhiên phân định tại Thiên thư.
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm,
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư.
Bản dịch thơ:
Sông núi nước Nam
Sông núi nước Nam, Nam đế ở,
Rành rành phân định tại sách trời
Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm
Chúng bay sẽ bị đánh tơi bời

Dị bản[sửa | sửa mã nguồn]

Nguyên bản chữ Hán[1]:
南國山河
南 國 山 河 南 帝 居
截 然 定 分 在 天 書
如 何 逆 虜 來 侵 犯
汝 等 行 看 取 敗 虛
Bản phiên âm Hán-Việt[7][8]:
Nam quốc sơn hà
Nam quốc sơn hà Nam đế cư,
Tiệt nhiên định phận tại Thiên thư.
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm,
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư.
Bản dịch thơ [8][9]:
Sông núi nước Nam
Sông núi nước Nam, vua Nam ở,
Rành rành định phận tại sách trời
Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm
Chúng bay sẽ bị đánh tơi bời
Phiên âm Hán - Việt:(Trần Hương Giang dịch)
Nam quốc sơn hà
Nam quốc sơn hà Nam đế cư
Tiệt nhiên định phận tại Thiên Thư
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm
Ngữ đẳng hành khan thủ bại hư.
Bản dịch thơ (Lê Thước - Nam Trân dịch):
Sông núi nước Nam vua Nam ở
Vằng vặc sách trời chia xứ sở
Giặc dữ cớ sao phạm đến đây
Chúng mày nhất định phải tan vỡ.
Bản dịch nghĩa (theo thơ văn Lý- Trần tập):
Sông núi nước Nam, vua Nam ở
Giới phận đó đã được định rõ ràng ở sách trời
Cớ sao kẻ thù lại dám đến xâm phạm
Chúng mày nhất định sẽ nhìn thấy việc chuốc lấy bại vong.

Tuyên ngôn độc lập[sửa | sửa mã nguồn]

Trong kháng chiến chống Tống lần thứ nhất[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 981, nhân khi cha con vua Đinh Tiên Hoàng vừa bị hại, vua mới là Đinh Toàn còn nhỏ, trong nước Đại Cồ Việt có nội loạn (Đinh Điền, Nguyễn Bặc nổi dậy chống Lê Hoàn), nhà Tống phát quân xâm lược. Lê Hoàn lên làm vua và kéo quân tới sông Đồ Lỗ (sông Cà Lồ) cự địch[10], tại đây ông đã sai người ngâm bài thơ trên để khích lệ tướng sĩ và uy hiếp tinh thần quân Tống[11]. Bằng những trận đánh quyết định ở sông Bạch Đằng, Bình Lỗ, Tây Kết, Lê Hoàn chém được tướng nhà TốngHầu Nhân Bảo, bắt sống Triệu Phụng Huân, quân Tống thua to chạy về nước.

Các nhà nghiên cứu gần đây thống nhất quan điểm Nam quốc sơn hà là bài thơ xuất hiện dưới thời Lê Đại Hành.[11][12] Hiện nay vẫn chưa có nhà sử học nào có thể minh chứng được bài thơ này của Lý Thường Kiệt như nhiều người ngộ nhận.[13][14]

Đa số các nhà nghiên cứu đồng tình với việc đề tên khuyết danh tác giả bài thơ. Nhưng cũng có ý kiến cho rằng, dù được coi là bài thơ thần thì bài thơ vẫn phải do con người làm ra. Người đó phải vừa biết chữ Hán lại giỏi thơ văn, phải cùng đi chiến trận và từng chịu đựng gian khổ với đức vua. Đã có hai giả thuyết được nêu ra. Thứ nhất là trong bài "Pháp Thuận và bài thơ thần nước Nam sông núi", Lê Mạnh Thát cho rằng tác giả của bài thơ là  Đỗ Pháp Thuận. Giả thuyết thứ hai là Khuông Việt, vì ngoài khả năng biết chữ Hán và giỏi văn thơ, một số sách sử cũ có ghi lại việc ông trực tiếp tham gia chiến trận chống Tống với vua Lê Đại Hành. Cho nên Đại sư Khuông Việt mới là tác giả của bài thơ[15].

Trong kháng chiến chống Tống lần thứ hai[sửa | sửa mã nguồn]

Sông Như Nguyệt
Bài chi tiết: Trận Như Nguyệt

Năm 1076, hơn 30 vạn quân nhà Tống (Trung Quốc) do Quách Quỳ chỉ huy xâm lược Đại Việt (tên nước Việt Nam thời đó). Lý Thường Kiệt lập phòng tuyến tại sông Như Nguyệt (sông Cầu) để chặn địch. Quân của Quách Quỳ đánh đến sông Như Nguyệt thì bị chặn.[16] Nhiều trận quyết chiến ác liệt đã xảy ra tại đây nhưng quân Tống đều bị đẩy lui và phải đóng trại bên bờ Bắc con sông này. Đang đêm, Lý Thường Kiệt cho người vào đền thờ Trương Hống, Trương Hát ở phía nam bờ sông Như Nguyệt, giả làm thần đọc vang bài thơ trên.[17] Nhờ thế tinh thần binh sĩ lên rất cao. Lý Thường Kiệt liền cho quân vượt sông, tổ chức một trận quyết chiến, đánh thẳng vào trại giặc do tên phó tướng là Triệu Tiết chỉ huy. Phần vì bất ngờ, phần vì sĩ khí quân Đại Việt đang lên, quân Tống chống đỡ yếu ớt, số bị chết, bị thương đã hơn quá nửa phải vội vàng rút về nước. Lý Thường Kiệt liền cho người sang nghị hòa[18], giữ vững được bờ cõi nước Đại Việt(Việt Nam).

Sơ lược về quá trình  lưu giữ và phổ biến bài thơ Nam quốc sơn hà[sửa | sửa mã nguồn]

Bài thơ Nam quốc sơn hà được đọc lên lần đầu vào đầu năm 981 trong một trận đánh quân Tống ở sông Cà Lồ[19][20]. Tuy nhiên phải đến năm 1329, tức 348 năm sau ngày ra đời, bài thơ mới lần đầu được chép lại trong chuyện Trương Hống, Trương Hát, sách Việt Điện U Linh[11]. Như vậy trong suốt thời gian gần 3,5 thế kỷ nhân dân ở khu vực hai con sông Cầusông Thương đã lưu giữ bài thơ bằng cách truyền miệng cho nhau từ thế hệ này sang thế hệ khác. Nhờ đó mà bài thơ không mất đi, tuy nhiên cũng phải đến năm 1697 thì bài thơ mới lần đầu được ghi vào quốc sử [21] và gần đây mới được phổ biến rộng rãi trong các trường học. Đến khi "Truyện hai vị thần ở Long Nhãn, Như Nguyệt" xuất hiện lần đầu vào năm 1554 (tức 573 năm sau) thì truyền thuyết về bài thơ mới được ghi chép đầy đủ với các chi tiết lịch sử có thật của trận đánh Tống năm 981 .[11]

Vậy là hơn 1000 năm qua bài thơ Nam quốc sơn hà vẫn bền bỉ sống trong lòng nhân dân, được nhân dân ta lưu giữ tại trên 370 ngôi đền miếu dọc hai sông Cầu và sông Thương, vượt qua biết bao khó khăn thì mới được chép vào các sách sử và cũng nhờ đó mà bài thơ  mới có thể đi suốt chiều dài lịch sử giữ nước cùng với dân tộc.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Ghi chú[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă Dựa vào đâu để hiệu chính cho đúng?, Báo Hậu Giang.
  2. ^ Nghia M. Vo. Legends of Vietnam: An Analysis and Retelling of 88 Tales. ISBN 0786490608. Trang 56.
  3. ^ Viện nghiên cứu Hán Nôm, Viện khoa học xã hội Việt Nam, Viện khoa học xã hội và nhân văn quốc gia, Trung tâm khoa học xã hội và nhân văn quốc gia (2006). Tạp chí Hán Nôm, Issues 74-79. Trang 5.
  4. ^ PGS Lê Trung Vũ & PGS Tiến sĩ Lê Hồng Lý. Lễ hội Việt Nam. Nhà xuất bản: Công ty Văn hóa Hương Trang. Trang 397.
  5. ^ “Những Tuyên ngôn bất hủ”. Thời báo doanh nhân. Truy cập 10 tháng 6 năm 2014. 
  6. ^ a ă “Qua Mộc bản triều Nguyễn: Hiểu đúng hơn về bản "Tuyên ngôn độc lập" đầu tiên của dân tộc”. Báo Ninh Bình. Truy cập 10 tháng 6 năm 2014. 
  7. ^ Gia Khánh Đinh (2000). Văn học Việt Nam, Tập 1. Tổng tập văn học Việt Nam, Tổng tập văn học Việt Nam. Nhà xuất bản Khoa Học Xã Hội. Trang 224.
  8. ^ a ă Ngô Sĩ Liên (1993). Đại Việt sử ký toàn thư, tập 1. Nhà xuất bản Khoa học xã hội. Trang 279.
  9. ^ Khắc Thuần Nguyễn (2002). Nước Đại Việt thời Lý - Trần. Nhà xuất bản Thanh niên. Trang 103.
  10. ^ “Hai vị thần ở Long Nhãn, Như Nguyệt”. 
  11. ^ a ă â b Nguyễn Thị Oanh. “Về thời điểm ra đời của bài Nam quốc sơn hà”. Truy cập 10 tháng 6 năm 2014. 
  12. ^ Phan Huy Lê khi khảo cứu tác phẩm ĐVSKTT đã cho rằng: "Các tác giả Đại Việt sử kí toàn thư đã đứng trên quan điểm chính thống, đạo trung quân cùng với những nguyên tắc của tam cương ngũ thường, tam tòng tứ đức để viết sử, để khen chê, để đánh giá và bình luận các nhân vật lịch sử"(24). Vì vậy khi đánh giá về Lê Hoàn (Lê Đại Hành), người sáng lập ra nhà Tiền Lê (980-1009), một vị anh hùng dân tộc có công lớn trong việc tổ chức và lãnh đạo công cuộc kháng chiến chống quân Tống lần thứ nhất, người đã được nhà viết sử Lê Văn Hưu hết lòng ca ngợi "Lê Đại Hành giết Đinh Điền, bắt Nguyễn Bặc, trói Quân Biện, Phụng Huân dễ như lùa trẻ con, như sai nô lệ, chưa đầy vài năm mà bờ cõi định yên, công đánh dẹp chiến thắng dẫu là các vua Hán, Đường cũng không hơn được" thì ngòi bút của Ngô Sĩ Liên lại phê phán gay gắt Lê Đại Hành về "tội" không hết lòng phò tá con vua Đinh, lập Dương Thị làm Hoàng hậu. Ông viết: "Đạo vợ chồng là đầu của nhân luân, mối của vương hóa... Đại Hành thông dâm với vợ vua rồi nghiễm nhiên lập làm Hoàng hậu, mất cả lòng biết hổ thẹn vậy". Nếu đã đánh giá Lê Đại Hành như vậy thì dễ gì lại đem bài thơ như một bản "Tuyên ngôn độc lập" đó của dân tộc gắn cho Lê Hoàn được. Vì vậy có lẽ đến thời điểm biên soạn bộ ĐVSKTT, các tác giả đã gắn bài thơ đó cho Lý Thường Kiệt. Cũng có thể đến thời Lý Nhân Tông, Lý Thường Kiệt đã mượn danh thần, cho người nấp vào đền ngâm bài thơ để cổ vũ quân sĩ, làm tiêu tan ý chí và tinh thần của kẻ địch. Việc mượn uy thần trong chiến trận cũng là một điều dễ hiểu, nhưng việc thần không được triều đình phong kiến nhà Lý phong thưởng sau khi thắng trận lại không theo lệ thường. Không lẽ vua Lý Nhân Tông "quên" không phong thưởng cho thần hay VĐUL "bỏ sót" không chép?
  13. ^ Viện nghiên cứu Hán Nôm, Viện khoa học xã hội Việt Nam, Viện khoa học xã hội và nhân văn quốc gia, Trung tâm khoa học xã hội và nhân văn quốc gia (2005). Tạp chí Hán Nôm, Issues 68-73. Viện nghiên cứu Hán Nôm, Ủy ban khoa học xã hội Việt Nam. Trang 8.
  14. ^ Viện khảo cổ học, Ủy ban khoa học xã hội Việt Nam (2004). Những phát hiện mới về khảo cổ học năm. Nhà xuất bản: Viện khảo cổ học, Ủy ban khoa học xã hội Việt Nam. Trang 726.
  15. ^ Nguyễn Thị Oanh. Tìm tác giả bài thơ Nam quốc sơn hà. Thông báo Hán Nôm học 2008; tr.776-793
  16. ^ Ủy ban khoa học xã hội Việt Nam (2000). Lịch sử văn học Việt Nam, Tập 1. Nhà xuất bản Khoa học Xã hội. Trang 192.
  17. ^ Bửu Diên Nguyễn-Phúc, Thị Hoàng Anh Phạm (2003). Quê hương hoài niệm. Tập 6. Trang 61.
  18. ^ Chiến tranh Tống Việt 1075-1077. mục giảng hoà
  19. ^ Hai vị thần ở Long Nhãn, Như Nguyệt. Lĩnh Nam Chích Quái
  20. ^ Bình Lỗ
  21. ^ Đại Việt sử ký bản kỷ toàn thư. Quyển III. Mục Nhân Tông Hoàng Đế

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]