Naphtalen
| Naphthalene | |
|---|---|
| Tổng quan | |
| Danh pháp IUPAC | Naphthalen |
| Tên khác | Nhựa long não, Nhựa trắng, Băng phiến |
| Công thức hóa học | C10H8 |
| SMILES | c1cccc2c1cccc2 |
| Phân tử gam | 128,17052 g/mol |
| Bề ngoài | Tinh thể/vảy rắn màu trắng |
| Số CAS | [91-20-3] |
| Thuộc tính | |
| Tỷ trọng | 1,14 g/cm³ |
| Độ hoà tan trong nước | khoảng 30mg/L |
| Nhiệt độ nóng chảy | 80,2 °C, 353 K, 176 °F |
| Nhiệt độ bay hơi | 218 °C, 491 K, 424 °F |
| Nguy hiểm | |
| MSDS | MSDS ngoài |
| Các nguy hiểm chính | Dễ cháy, dễ gây ung thư. Có thể tạo thành hỗn hợp nổ trong không khí |
| NFPA 704 | |
| Điểm bốc cháy | 79 - 87 °C |
| Nhiệt độ bắt cháy | 525 °C |
| Chỉ dẫn nguy hiểm và an toàn | R: 22, 40, 50/53 S: 2, 36/37, 46, 60, 61 |
| Số RTECS | QJ0525000 |
| Ngoại trừ có thông báo khác, các dữ liệu được lấy ở 25 °C, 100 kPa Thông tin về sự phủ nhận và tham chiếu |
|
Naphtalen (còn gọi là naphtalin, băng phiến, nhựa long não, nhựa trắng...) là một hyđrocacbon ở thể rắn, tinh thể màu trắng. Naphtalen dễ bay hơi tạo thành hơi dễ cháy.
Cấu tạo của naphtalen gồm 2 vòng benzen gắn vào nhau với công thức tổng quát C10H8.
Mục lục |
[sửa] Lịch sử
Vào 2 năm 1819 và 1920, ít nhất 2 nhà hóa học phát hiện ra một chất rắn màu trắng khi tiến hành chưng cất nhựa than đá. Năm 1821, John Kidd mô tả nhiều tính chất của chất này cùng cách điều chế và đề xuất cái tên naphthaline.
5 năm sau, Michael Faraday xác định được công thức hóa học của naphtalen là C10H8. Đến tận năm 1866, Emil Erlenmeyer mới nghĩ ra cấu trúc gồm 2 vòng benzen gắn vào nhau. Cấu trúc này được Carl Graebe khẳng định năm 1869.
[sửa] Tính chất hoá học
[sửa] Phản ứng thế
Naphtalen phản ứng thế nhanh hơn benzen, sản phẩm chủ yếu thế vào vị trí alpha, vị trí beta chỉ có trong các điều kiện ngặt nghèo. Vị trí các nguyên tư C được đánh số như sau: các vị trí hai nhân thơm giấp nhau là 9 và 10, bên cạnh các vị trí đó là 1,4,5 và 8 (alpha), còn lại là beta.
[sửa] Các phản ứng khác
Khi có bột Ni nung nóng, H2 cộng vào một nhân thơm của naphtalen thành tetralin, nếu ở áp suất cao hơn nó cộng nốt vào nhân còn lại tạo decalin. Cũng như benzen, naphtalen không làm mất màu dung dịch thuốc tím.
[sửa] Điều chế
Ngày nay, người ta chủ yếu điều chế naphtalen từ than đá. Còn trước kia, naphtalen được điều chế từ dầu nặng trong quá trình tinh chế dầu mỏ.
[sửa] Ứng dụng
Naphtalen được dùng để:
- Làm băng phiến.
- Sản xuất naphtol, naphtylamin, một số dược liệu.
Tetralin và decalin chủ yếu dùng làm dung môi.
[sửa] Ảnh hưởng đến sức khỏe con người
Các tế bào hồng cầu có thể bị hỏng hoặc phá hủy nếu ngửi một lượng lớn hơi naphtalen.
[sửa] Xem thêm
[sửa] Liên kết ngoài
| Wikimedia Commons có thêm thể loại hình ảnh và tài liệu về: Naphtalen. |