Natri hypoclorit

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Natri hypoclorit
200px
Tên khác Natri clorat(I)
Nhận dạng
Số CAS 7681-52-9
PubChem 24340
Số EINECS 231-668-3
Số RTECS NH3486300
Thuộc tính
Bề ngoài chất rắn màu trắng
Tỷ trọng 1.11 g/cm3
Điểm nóng chảy 18 °C (ngậm nước)
Điểm sôi 101 °C (phân huỷ)
Độ hòa tan trong nước 29.3 g/100ml (0 °C)
Các nguy hiểm
MSDS ICSC 1119 (dung dịch, <10% clo hoạt động)
ICSC 0482 (dung dịch, >10% clo hoạt động)
Phân loại của EU Chất ăn mòn (C)
Nguy hại cho môi trường (N)
Chỉ mục EU 017-011-00-1
NFPA 704

NFPA 704.svg

0
2
1
OX
Chỉ dẫn R R31, R34, R50 (xem Danh sách nhóm từ R)
Chỉ dẫn S S1/2, S28, S45, S50, S61 (xem Danh sách nhóm từ S)
Các hợp chất liên quan
Anion khác Natri clorua
Natri clorit
Natri clorat
Natri perclorat
Cation khác Liti hypoclorit
Canxi hypoclorit
Hợp chất liên quan Axit hypoclorơ

Natri hypoclorit là một hợp chất hoá họccông thức NaClO. Dung dịch natri hypoclorit, thường được biết như là chất tẩy trắng, được dùng thường xuyên dưới dạng chất tẩy uế hay là tác nhân tẩy trắng.

Sản xuất[sửa | sửa mã nguồn]

Hypoclorit được sản xuất lần đầu vào năm 1789 bởi Claude Louis Berthollet trong phòng thí nghiệm của ông trên bến cảng JavelParis, Pháp bằng cách dẫn khí clo vào dung dịch natri cacbonat. Chất lỏng thu được, được biết là "Eau de Javel" ("nước Javel"), là một dung dịch natri hypoclorit yếu. Tuy nhiên phương pháp này không hiệu quả và cách sản xuất thay thế được tìm kiếm. Cách mới là chiết vôi được khử bằng clo (bột tẩy) với natri cacbonat tạo ra lượng nhỏ clo có thể tìm thấy. Cách này thông thường được dùng để sản xuất dung dịch hypoclorit để dùng như là chất khử trùng trong bệnh viện được bán với tên thương mại "Eusol" và "dung dịch Dakin".

Đến gần cuối thế kỉ 19, E. S. Smith lấy được bằng sáng chế sản xuất hypoclorit bằng cách thuỷ phân nước biển để tạo ra natri hydroxit và khí clo rồi sau đó trộn với nhau tạo thành dạng hypoclorit. Cả điện năng và nước biển đều có thể cung cấp với giá rẻ cùng một lúc và những thương nhân mạnh dạn đã nắm được lợi thế để làm thoả mãn sự đòi hỏi của thị trường về hypoclorit. Dung dịch hypoclorit đóng chai được bán với nhiều tên thương mại khác nhau; cái nhãn sớm nhất sản xuất bằng cách này là Parozone.

Ngày nay, một phương pháp cải tiến của cách trên, được biết là phương pháp Hooker, là cách sản xuất natri hypoclorit theo hướng công nghiệp ở mức độ rộng rãi. Theo phương pháp này natri hypoclorit (NaClO) và natri clorua (NaCl) được tạo ra khi dẫn khí clo vào dung dịch natri hydroxit nguội loãng. Nó được chuẩn bị về mặt công nghiệp bằng cách điện phân có màng ngăn nhỏ giữa anôtcatôt. Dung dịch phải giữ ở nhiệt độ dưới 40°C (bằng những cuộn dây làm lạnh) để ngừa sự hình thành natri clorat không được ưa thích.

Cl2 + 2 NaOH → NaCl + NaClO + H2O

Natri hydroxit và clo được sản xuất về mặt thương mại bằng quá trình chloralkali, và không cần cách ly chúng để chuẩn bị natri hypoclorit.

Do đó clo được giảm thiểu và ôxi hoá đồng thời.

Dung dịch thương mại luôn luôn chứa một lượng đáng kể natri clorua (muối ăn) như một phụ phẩm chính, như ở phương trình trên.

Đóng gói và bán hàng[sửa | sửa mã nguồn]

Chất tẩy gia dụng để dùng trong việc giặt ủi quần áo là dung dịch natri hypoclorit 3-6% lúc sản xuất. Nồng độ làm biến đổi từ một công thức thành những chất khác và giảm từ từ theo thời gian.

Dung dịch natri hypoclorit 12%[1] được dùng rộng rãi trong nhà máy nước cho việc khử trùng nước bằng clo và dung dịch 15%[2] được dùng thường xuyên hơn trong việc tẩy uế nước thải ở nhà máy xử lý. Hypoclorit cao được bán để khử trùng hồ bơi và chứa xấp xỉ 30% canxi hypoclorit. Tinh thể muối còn được bán cho những việc tương tự; muối này thường chứa ít hơn 50% canxi hypoclorit. Tuy nhiên, mức hoạt động của clo là cao hơn.

Nó còn được tìm thấy trên các kệ hàng ở Daily Sanitizing Sprays, với thành phần 0,0095%. [3]

Các phản ứng[sửa | sửa mã nguồn]

Natri hypoclorit phản ứng với kim loại từ từ, ví dụ kẽm, để sản xuất ôxit kim loại hay hyđroxit:

NaClO + Zn → ZnO + NaCl

Nó tác dụng với axít clohiđric để giải phóng khí clo:

NaClO + 2 HCl → Cl2 + H2O + NaCl

Nó phản ứng với các axit khác, như axit axetic, để tạo ra axit hypoclorơ:

NaClO + CH3COOH → HClO + CH3COONa

Nó phân huỷ khi đun nóng hoặc bay hơi thành natri cloratnatri clorua:

3 NaClO → NaClO3 + 2 NaCl

Sử dụng[sửa | sửa mã nguồn]

Chất tẩy[sửa | sửa mã nguồn]

Ở dạng gia dụng, natri hypoclorit được dùng để loại bỏ chất bẩn ra khỏi quần áo. Nó có công hiệu đặc biệt trên vải cotton, dù chất bẩn dễ bám nhưng cũng dễ tẩy. Thưòng từ 50 đến 250 ml chất tẩy trên một khối được khuyến khích cho máy giắt tiên chuẩn. Đặc tính của chất tẩy gia dụng là hiệu quả cho việc loại bỏ vết bẩn nhưng huỷ hoại dần các loại vải hữu cơ như cotton, và tuổi thọ có ích của các chất liệu này sẽ bị thu ngắn với những chất tẩy thông thường. Natri hydroxit (NaOH) tìm thấy trong chất tẩy gia dụng cũng gây nên vấn đề tương tự. Nó không dễ bay hơi và lượng NaOH dư không được rửa sẽ tiếp tục huỷ hoại dần vải hữu cơ dưới sự có mặt của độ ẩm. Vì những lí do sau, nếu vết bẩn được khoanh vùng, vị trí xử lý sẽ thu lại bất cứ khi nào có thể. Với những khuyến cáo an toàn, nên xử lý qua axit hữu cơ yếu như axit axetic sẽ trung hoà NaOH, và làm bay hơi clo từ hypoclorit dư. Những áo sơ mi cũ và khăn bông mà bị xé rách dễ dàng chứng tỏ cái giá của việc giặt ủi với chất tẩy gia dụng. Nước nóng làm gia tăng hoạt động của chất tẩy, bởi vì tính nhiệt phân của hypoclorit tạo ra muối clorat không mong muốn đối với môi trường.

Chất tẩy uế[sửa | sửa mã nguồn]

Dung dịch yếu 1% chất tẩy gia dụng trong nước ấm được dùng để làm vệ sinh những bề mặt phẳng trước khi ủ bia hoặc rượu vang. Bề mặt này sau đó phải được rửa sạch để tránh gây mùi cho việc ủ; những phụ phẩm tạo ra khi khử trùng với clo của những bề mặt trên còn gây hại.

Quy định của Chính phủ Mỹ (21 CFR Part 178) thiết bị chế biến thực phẩm và thực phẩm tiếp xúc với bề mặt được làm vệ sinh với dung dịch chứa chất tẩy được cho vào dung dịch thì được cho phép để thoát đi tương ứng trước khi tiếp xúc với thức ăn, và hàm lượng clo trong dung dịch không được vượt quá 200 phần triệu (ppm) (ví dụ, một muỗng súp chất tẩy chuẩn chứa 5,25% natri hypoclorit trên một gallon nước). Nếu nồng độ cao hơn, bề mặt phải được rửa sạch với nước uống sau khi làm vệ sinh.

Dung dịch chất tẩy gia dụng loãng (1 phần chất tẩy: 4 phần nước) có hiệu quả đối với nhiều vi khuẩnvirus, và thường là sự lựa chọn chất tẩy trùng phổ biến nhất cho việc làm vệ sinh trong các bệnh viện (chủ yếu ở Mỹ). Dung dịch này là chất ăn mòn và cần phải được dọn sạch sau đó, cho nên chất tẩy trùng bằng chất tẩy thường đi cùng với chất tẩy trùng bằng ethanol. Thậm chí ở mức độ khoa học, những dung dịch tẩy trùng sản xuất theo quy trình thương mại như Virocidin-X thường có natri hypoclorit như là thành phần hoạt động duy nhất, mặc dù chúng thường chứa các chất hoạt động bề mặt (để ngừa đọng lại thành giọt) và hương thơm (để che mùi thuốc tẩy)[4].

Xử lý nước[sửa | sửa mã nguồn]

Để khử trùng giếng hoặc các hệ thống nước, một dung dịch chất tẩy 3% được sử dụng. Cho những hệ thống lớn hơn, natri hypoclorit thì thiết thực hơn vì tỉ lệ thấp hơn được dùng. Tính kiềm của dung dịch natri hypoclorit còn gây ra sự kết tủa của các khoáng chất như canxi cacbonat, cho nên việc khử trùng thường đi cùng với những tác động cản trở. Sự kết tủa còn bảo vệ vi khuẩn, làm cho cách này có phần giảm hiệu quả đôi chút.

Natri hypoclorit đã và đang được dùng để khử trùng nước uống. Một dung dịch cô cạn tương đương khoảng 1 lít chất tẩy gia dụng trên 4000 lít nước được dùng. Khối lượng chính xác phụ thuộc vào tính chất hoá học về nước, nhiệt độ, thời gian tiếp xúc, và sự có mặt hay vắng mặt của chắt cặn. Cho việc ứng dụng rộng rãi, clo dư được tính toán để xác định liều dùng đúng. Cho việc khử trùng khẩn cấp, Cơ quan Bảo vệ môi trường Hoa Kì khuyến khích sử dụng 2 ml dung dịch chất tẩy 5% cho 1 lít nước. Nếu không có mùi chất tẩy trong nước được xử lý, 2 giọt nữa được thêm vào.

Việc dùng các chất tẩy trùng có nguồn gốc clo trong hệ thống nước gia đình, dù rộng rãi, đã bắt nguồn cho một số tranh cãi vì sự hình thành một khối lượng nhỏ các chất phụ phẩm có hại như cloroform.

Dung dịch natri hypoclorit có tính kiềm (pH 11) được dùng để xử lý nước thải loãng chứa xyanua (<1g/L), ví dụ nước xả từ cửa hàng mạ điện. Trong đợt xử lý, natri hypoclorit được dùng để xử lý nước thải chứa xyanua cô đặc hơn, như dung dịch mạ điện bạc xyanua. Dung dịch pha trộn tốt được xử lý đầy đủ khi một lương thừa clo được phát hiện.

Giải phẫu bên trong răng[sửa | sửa mã nguồn]

Natri hypoclorit bây giờ được dùng trong giải phẫu bên trong răng trong suốt thời gian xử lý đường tuỷ răng. Nó là dược phẩm của sự lựa chọn vì hoạt động hiệu quả của nó trước sinh vật gây bệnh bệnh về tuỷ răng. Về mặt lịch sử, dung dịch Henry Drysdale Dakin 0,5% đã từng được dùng. Nồng độ sử dụng trong giải phẫu bên trong răng ngày nay biến đọng trong khoảng 0,5 đến 5,25%. Ở nồng độ thấp nó sẽ hoà tan chủ yếu trong tế bào chết; trái lại ở nồng độ cao hơn sự hoà tan trong tế bào của nó sẽ tốt hơn nhưng nó còn tan trong tế bào sống, một tác dụng hoàn toàn không mong muốn. Nó được thể hiện các tác dụng y khoa nhưng không gia tăng chắc chắn cho đến khi nồng độ của nó đạt 1%.[5].

Oxi hoá[sửa | sửa mã nguồn]

Chất tẩy gia dụng với một chất xúc tác dời pha (phase-transfer catalyst) đã được báo cáo là ôxi hoá rượu thành hợp chất lên hệ carbonyl.[6]

Cơ chế hoạt động[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Axit hypoclorơ

An toàn[sửa | sửa mã nguồn]

Natri hypoclorit là một chất ôxi hoá mạnh. Sản phẩm của phản ứng ôxi hoá là một chất ăn mòn. Dung dịch này làm bỏng da và huỷ hoại mắt, đặc biệt khi ở dạng cô đặc. Tuy nhiên, theo sự công nhận của NFPA, chỉ những dung dịch hypoclorit nồng độ 40% trở lên mới được coi là một chất ôxi hoá nguy hiểm. Dung dịch có nồng độ dưới 40% được xếp là một chất ôxi hoá có mức độ nguy hiểm trung bình (NFPA 430, 2000).

Nước uống khử trùng bằng clo có thể ôxi hoá những chất hữu cơ gây nguy hiểm, tạo ra trihalomethane (còn gọi là haloform), một chất gây ung thư.

Chất tẩy gia dụng và dung dịch khử trùng hồ bơi được làm cân bằng đặc trưng bởi dung dịch kiềm đáng kể (xút ăn da, NaOH) nư là một phần của các phản ứng sản xuất. Sự tiếp xúc với da sẽ tạo ra nhứng kích thích ăn da hoặc làm bỏng do sự rút mỡ và xà phòng hoà dầu nhờn trên da cùng với sự phá huỷ tế bào. Cảm giác trơn của chất tẩy trên da là do quá trình này.

Natri thiosulfat (hypo) là chất trung hoà clo hiệu quả. Rửa với dung dịch natri thiosulfat nồng độ 5 mg/L, sau đó giặt với xà phòng và nước, như vậy đã nhanh chóng loại bỏ dấu vết của clo trên tay.

Hỗn hợp chất tẩy cùng với một số chất tẩy gia dụng khác có thể gây nguy hiểm. Ví dụ, hỗn hợp chất tẩy axit với chất tẩy natri hypoclorit tạo ra khí clo. Hỗn hợp với dung dịch ammonia (bao gồm nước tiểu) tạo ra cloramin.

NH4OH + NaOCl → NaOH + NH2Cl + H2O

Cả khí clo và khí cloramin đều độc. Chất tẩy có thể phản ứng mãnh liệt với hiđrô perôxít và tạo ra khí ôxi::[7]

H2O2 + NaOCl → NaCl + H2O + O2

Thống kê rằng có khoảng 3300 vụ tai nạn cần giúp đỡ về y tế gây ra bởi natri hypoclorit mỗi năm tại các hộ gia đình ở Anh (RoSPA, 2002).

Một nghiên cứu toàn châu Âu gần đây chỉ ra rằng natri hypoclorit và các hợp chất hữu cơ khác (chất hoạt động bề mặt, chất thơm) chứa nhiều sản phẩm tẩy rửa gia dụng có thể tác dụng với nhau để tạo ra những hợp chất chứa clo dễ bay hơi (VOCs).[8] Những hợp chất chứa clo này được toả ra trong suốt những ứng dụng tẩy rửa, một vài trong số chúng thì độc và có thể gây ung thư cho người. Cuộc nghiên cứu này còn chỉ ra sự tập hợp không khí ở trong nhà gia tăng đáng kể (8-52 lần cloroform và 1-1170 lần cacbon tetraclorua, đều vượt mức quy định ở trong nhà) khi sử dụng các sản phẩm có chứa chất tẩy. Sự gia tăng tập trung các chất hữu cơ chứa clo dễ bay hơi thấp nhất đối với các loại chất tẩy bình thường và cao nhất đối với loại "chất lỏng đặc và gel". Sự gia tăng đáng kể các chất loại VOCs trong không khí bên trong nhà (đặc biệt là cacbon tetraclorua và cloroform) cho thấy sử dụng chất tẩy có thể là nguồn mà có lẽ là quan trọng trong thời kì phơi bày hít vào của hợp chất này. Trong khi các tác giả đề nghị dùng những sản phẩm tẩy rửa này có thể gia tăng đáng kể nguy cơ ung thư [8], phần kết luận vẫn có tính giả thuyết:

  • Nguồn cho mức độ cao nhất của sự tập trung cacbon tetraclorua (có vẻ là quan tâm nhất) là 459 microgam trên mét khối, tương đương 0.073 ppm (phần triệu) hay 73 ppb (phần tỉ). OSHA cho phép mức trung bình khối lượng thời gian là 10 ppm cho một khoảng 8 giờ [9], cao hơn khoảng 140 lần.
  • Mức tập trung cao nhất cho phếp của OSHA (5 phút phơi nhiễm trên 5 phút trong khoảng thời gian 4 giờ) là 220 ppm [9], gấp hai lần so với mức cao nhất được báo cáo (từ khoảng cách chứa thêm của một chai của một vật mẫu chất tẩy).

Những nghiên cứu xa hơn về cách dùng những sản phẩm này và các lộ trình có thể khác có thể chỉ thêm khững rắc rối khác nữa. Dù các tác giả trích dẫn sự phá hoại tầng ôzôn gây hiệu ứng nhà kính do những khí này, lượng chỉ rất ít thôi, tạo ra như quy định, nên giảm thiểu sự đóng góp liên quan đến các nguồn khác.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ [1]
  2. ^ Metcalf & Eddy, Inc (1991). Khoa công trình nước thải: Xử lý, loại bỏ và tái sử dụng số 3; trang 497
  3. ^ “Cái gì trong Daily Sanitizing Spray?”. Tháng 3 2010. 
  4. ^ http://www.kamscientific.com/
  5. ^ Zehnder M, et al. (2002). “Khả năng tan trong tế bào và tác dụng kháng khuẩn của dung dịch natri hypoclorit đệm và không đệm”. Oral Surg Oral Med Oral Pathol Oral Radio Endodon 94: 756. doi:10.1067/moe.2002.128961. 
  6. ^ G. A. Mirafzal and A. M. Lozeva (1998). “Sự ôxi hoá có xúc tác dời pha rượu với natri hypoclorit”. Tetrahedron Letters 39 (40): 7263–7266. doi:10.1016/S0040-4039(98)01584-6. 
  7. ^ “Sự giải thích về phản ứng chất tẩy + hydro peroxit”. Truy cập 13 tháng 12 2008.  Đã bỏ qua tham số không rõ |dateformat= (trợ giúp)
  8. ^ a ă Odabasi, M., “Những hợp chất hữu cơ chứa các halogen dễ bay hơi từ việc dùng những sản phẩm tẩy rửa chứa clo”, Environmental Science & Technology 42, 1445-1451, (2008). Có tại: http://pubs.acs.org/journals/esthag/
  9. ^ a ă http://www.osha.gov/dts/chemicalsampling/data/CH_225800.html

Thư mục[sửa | sửa mã nguồn]

  • Jones, F.-L. (1972). “Chlorine poisoning from mixing household cleaners”. J. Am. Med. Assoc. 222: 1312. doi:10.1001/jama.222.10.1312. 
  • Institut National de Recherche et de Sécurité. (2004). "Eaux et extraits de Javel. Hypochlorite de sodium en solution". Fiche toxicologique n° 157, Paris.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]