Natri myreth sulfat

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Natri myreth sunfat)
Bước tới: menu, tìm kiếm
Tên khác PEG-(1-4) myristyl ete sunfat, muối natri;
POE(2) myristyl ete sunfat;
natri đietilen glycol myristyl ete sunfat;
natri myristyl ete sunfat
Nhận dạng
Viết tắt SMES
Số CAS 25446-80-4
PubChem 23682189
Số EINECS 246-986-8
Ảnh Jmol-3D ảnh
SMILES
InChI 1S/C20H42O7S.Na/c1-2-3-4-5-6-7-8-9-10-11-12-13-14-24-15-16-25-17-18-26-19-20-27-28(21,22)23;/h2-20H2,1H3,(H,21,22,23);/q;+1/p-1
Thuộc tính
Công thức phân tử CH3(CH2)12CH2(OCH2CH2)nOSO3Na
Phân tử gam 448.590 g/mol

Natri myreth sunfat là một hỗn hợp hợp chất hữu cơ với cả hai thành phần tẩy rửahoạt động bề mặt. Nó được tìm thấy trong nhiều loại sản phẩm chăm sóc cá nhân như: xà phòng, dầu gội đầukem đánh răng. Đây là một chất tạo bọt rẻ và hiệu quả. Natri myreth sunfat chứa nhiều hợp chất có gần giống với các loại chất giặt rửa khác. Đôi khi số đơn vị ete của etylen glycol (n) được ghi rõ trong tên như myreth-n sunfat, ví dụ myreth-2 sunfat.

Sản xuất[sửa | sửa mã nguồn]

Natri myreth sunfat rất giống với natri laureth sunfat; sự khác biệt duy nhất là có thêm hai nguyên tử cacbon trong phần ancol no của đuôi kị nước. Nó được sản xuất bằng phương pháp etoxi hóa (vì thế nên có đuôi "eth" trong "myreth") ancol myristylic. Sau đó nhóm OH cuối bị chuyển thành gốc sunfat khi xử lý với axit closunfuric.[1]

An toàn[sửa | sửa mã nguồn]

Như các etoxilat khác, natri myreth sunfat có thể trở nên gây ô nhiễm với 1,4-đioxan trong khi sản xuất,[2] được xem là chất nghi ngờ gây ung thư nhóm 2B bởi Cơ quan Nghiên cứu ung thư quốc tế (IARC).

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Eduard Smulders, Wolfgang von Rybinski, Eric Sung, Wilfried Rähse, Josef Steber, Frederike Wiebel, Anette Nordskog "Laundry Detergents" in Ullmann's Encyclopedia of Industrial Chemistry 2007, Wiley-VCH, Weinheim. doi:10.1002/14356007.a08_315.pub2.
  2. ^ Dầu gội trẻ em có thể gây độc. The Canary Report.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]