Ngô Đình Nhu
| Thông tin trong bài này không thể kiểm chứng được do không được chú giải từ bất kỳ nguồn tham khảo nào. Xin bạn hãy cải thiện bài viết này bằng cách bổ sung chú thích tới các nguồn uy tín. Nếu bài được dịch từ Wikipedia ngôn ngữ khác thì hãy chuyển nguồn tham khảo từ phiên bản đó cho bài này. |
| Ngô Đình Nhu | |
| Đảng | Đảng Cần Lao |
|---|---|
| Sinh | 10 tháng 7, 1910 Huế |
| Mất | 2 tháng 11, 1963 (53 tuổi) Sài Gòn |
Ngô Đình Nhu (chữ Hán: 吳廷柔; 1911-1963) về danh nghĩa là Cố vấn Chính trị cho anh mình là Tổng thống Việt Nam Cộng hòa Ngô Đình Diệm. Tuy nhiên, hầu hết các tài liệu lịch sử[cần dẫn nguồn] đều nhận định ông là kiến trúc sư của mọi chủ trương chính sách của nền Đệ nhất Cộng hòa Việt Nam.
Mục lục |
Tiểu sử [sửa]
Ông sinh năm 1911 tại Huế nhưng quê quán ở làng Đại Phong, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình. Thân phụ ông là Ngô Đình Khả, một trong những vị đại thần của nhà Nguyễn. Chữ Nhu (柔) trong tên ông do thân phụ đặt với ý nghĩa "làm cho người nể phục".
Khác với hai người anh của mình là Ngô Đình Khôi và Ngô Đình Diệm, vốn xuất thân Nho học và ra làm quan cho nhà Nguyễn, Ngô Đình Nhu lại theo Tây học. Ông tốt nghiệp ngành cổ sử của Trường pháp điển quốc gia (École nationale des chartres) ở Paris, Pháp[cần dẫn nguồn][1]. Năm 1938, ông về nước làm việc ở Văn khố Phủ toàn quyền Đông Dương (Hà Nội)[1]. Năm 1943, Ngô Đình Nhu chuyển sang làm giám đốc văn khố Tòa khâm sứ Huế. Về sau được văn phòng Nam triều mời giữ chức chủ tịch hội đồng chỉnh đốn châu bản và văn khố nhà Nguyễn [1]
Sau Cách mạng tháng Tám, Ngô Đình Nhu được Chính phủ Cách mạng cử làm Giám đốc Nha Lưu trữ công văn và Thư viện Quốc gia tại Hà Nội (Sắc lệnh số 21, ký ngày 8-9-1945 của Chính phủ Lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa do Bộ trưởng Bộ Nội vụ Võ Nguyên Giáp ký), nhưng khi quan hệ giữa Việt Minh và các đảng phái khác theo chủ nghĩa quốc gia xấu đi, ông bị Việt Minh bắt giam sau đó được thả rồi bỏ trốn sang Lào.[cần dẫn nguồn] Năm 1948, Nhu về nước sống ẩn dật ở Đà Lạt và thỉnh thoảng xuống Sài Gòn móc nối thông tin.[2]
Từ thập niên 1950, ông bắt đầu hoạt động chống Việt Minh với sự thành lập Liên đoàn Lao động Công giáo.
Ông là cha đẻ của Đảng Cần Lao, dựa vào thuyết Nhân Vị (personnalisme) đúc kết hai xu hướng của triết gia công giáo Emmanuel Mounier và Jacques Maritain.
Năm 1954, khi Ngô Đình Diệm lên cầm quyền, ông thành lập đảng chính trị Cần Lao, dựa vào một chủ thuyết do ông khởi xướng là học thuyết Cần lao - Nhân vị để hỗ trợ chính quyền của anh ông. Dưới sự giúp đỡ của người Mỹ, đảng Cần Lao phát triển lên nhanh chóng, thâm nhập vào hàng ngũ quân đội, công chức, trí thức và cả giới kinh doanh và trở thành chính đảng lớn nhất thời bấy giờ. Đồng thời, ông cũng cho thành lập một tổ chức có tên là "Thanh niên Cộng hòa", theo mô hình đảng sơ-mi nâu của Adolf Hitler, do ông làm Tổng thủ lãnh. Một tổ chức khác dành cho phụ nữ có tên là "Phụ nữ liên đới" cũng được thành lập và do vợ ông làm Tổng thủ lãnh. Ông là Chủ tịch Ủy ban Liên bộ đặc trách Ấp chiến lược, tổ chức thực hiện kế hoạch quốc phòng Ấp chiến lược từng gây khó khăn cho những người cộng sản miền Nam.
Về danh nghĩa, ông chỉ là một cố vấn chính trị, nhưng hầu hết các tài liệu đều ghi nhận ông là kiến trúc sư của chế độ, là người khởi xướng mọi chủ trương chính sách của nền Đệ nhất cộng hòa [cần dẫn nguồn]. Ông cũng cho lập và trực tiếp khống chế nhiều cơ quan tình báo và mật vụ (lúc cao trào có tới 13 cơ quan) với những quyền lực to lớn như được quyền bắt giam người không cần xét xử.
Tuy nhiên, do tính chất độc tài gia đình trị, cộng với những biện pháp tàn bạo đối với những người bất đồng chính kiến dẫn đến việc ông bị xem là có trách nhiệm cho sự sụp đổ của nền Đệ nhất cộng hòa. Đặc biệt là việc trấn áp Phật giáo trong biến cố Phật giáo, 1963 khiến chính phủ Việt Nam Cộng hòa mất uy tín và bị phân hóa. Ngày 1 tháng 11 năm 1963, các tướng lĩnh đã thực hiện cuộc đảo chính quân sự lật đổ tổng thống Ngô Đình Diệm. Ngô Đình Nhu và người anh phải chạy trốn vào nhà thờ Cha Tam. Ngày 2 tháng 11 năm 1963, người ta thấy một đoàn xe quân sự đến đón hai anh em ông về Bộ Tổng tham mưu. Khi chiếc thiết giáp M 113 chở hai anh em ông về đến nơi thì phát hiện thi thể của hai anh em ông với nhiều vết dao và dấu đạn trên người.
Ông là người có công lao lưu giữ Mộc bản triều Nguyễn. Số mộc bản này hiện đang bảo quản tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia IV - Đà Lạt, Lâm Đồng (xưa và nay vẫn là Biệt điện Trần Lệ Xuân [3] - Khu Di tích của TP. Đà Lạt).[4]
Các câu nói nổi tiếng [sửa]
- Cộng sản có gì hay ta phải học! [cần dẫn nguồn]
- Chúng ta phải giữ lấy miền Nam để tạo lối thoát cho miền Bắc, còn nếu không giữ được, cả nước này sẽ rơi vào tay Trung Quốc - Ngô Đình Nhu năm 1957.[cần dẫn nguồn]
Trong văn học [sửa]
Trong điện ảnh [sửa]
Hình ảnh Ngô Đình Nhu được phác họa khá rõ trong bộ phim Ván Bài Lật Ngửa, kịch bản của Nguyễn Trương Thiên Lý.
Nhận xét [sửa]
Trong cuộc họp nội các Đảng Cần lao Nhân vị sau khi thành lập chính phủ 1956:
| “ | ... Chúng ta thuộc về một gia đình mà vận mệnh của nó gắn liền với quốc gia.[cần dẫn nguồn] | ” |
Đây là tuyên bố về việc xây dựng một nhà nước theo kiểu gia đình trị. Đảng Cần lao Nhân vị có cũng được mà không có cũng được, nó trở thành vật trang trí cho dù chính Đảng Cần Lao Nhân Vị là bước đệm quan trọng giúp cho ông Diệm trở thành Tổng thống.
Tướng Cao Văn Viên, trong một cuộc phỏng vấn cuối đời, đã có nhận định về Ngô Đình Nhu cũng như so sánh Ngô Đình Nhu với Ngô Đình Diệm như sau ("Mạn đàm với Cao Văn Viên" - Lâm Lễ Trinh):
| “ | ... ông Ngô Đình Diệm chỉ là một symbol, một biểu tượng mà thôi, ông không thể làm gì nếu không có cố vấn Nhu bên cạnh. Tất cả các bài diễn văn của TT Diệm đều do ông Nhu soạn thảo. Khổ nỗi, Hoa kỳ muốn tách ông Nhu khỏi ông Diệm. Ông Nhu là một trở ngại. Trở ngại lớn hơn TT Diệm. Vì ông Nhu có nhiều mưu lược. Ông Nhu chống Mỹ hơn chống Pháp. TT Diệm thì trái lại.[cần dẫn nguồn] | ” |
Thực lực của đảng Cần Lao Nhân Vị - chính đảng do Ngô Đình Nhu lập ra, cũng được Cao Văn Viên nhận xét:
| “ | ... Đảng Cần Lao - dựa vào thuyết Cần Lao Nhân Vị - tổ chức quy củ hơn, với sự chỉ huy trực tiếp của hai ông Nhu và Cẩn, đi sâu vào Quân Đội với các quân ủy, như Cộng sản. Đảng Dân chủ yếu hơn, không dựa vào cương lĩnh vững chắc nào, chỉ có hình thức, được ông Thiệu thành lập để củng cố địa vị, không có ảnh hưởng trong Quân đội và quần chúng.[cần dẫn nguồn] | ” |
Nguồn tham khảo [sửa]
- ^ a b c Tử ngục Chín Hầm và những điều ít biết về Ngô Đình Cẩn, Dương Phước Thu, NXB Thuận Hóa. tr 33
- ^ Văn Chinh (24/8/2008). “Những điều chưa biết về Ngô Đình Nhu”. Báo Điện tử Tổ Quốc của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch. Bản gốc lưu trữ 24/8/2008. Truy cập 23/6/2011.
- ^ VH (18/09/2009). “Khu biệt điện Trần Lệ Xuân được UNESCO công nhận là di sản tư liệu”. Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam. Bản gốc lưu trữ 18/09/2009. Truy cập 23/6/2011.
- ^ TTXVN/Vietnam+ (14/12/2009). “Mộc bản triều Nguyễn sắp nhận bằng di sản thế giới”. VietnamPlus, TTXVN. Bản gốc lưu trữ 14/12/2009. Truy cập 23/6/2011.
Liên kết ngoài [sửa]
| Wikimedia Commons có thêm thể loại hình ảnh và tài liệu về: Ngô Đình Nhu. |