Ngô Đình Nhu

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Ngô Đình Nhu
Ngodinhnhu.jpg
Chức vụ
Thông tin chung
Đảng phái Đảng Cần Lao
Sinh 7 tháng 10, 1910(1910-10-07)
Huế
Mất 2 tháng 11, 1963 (53 tuổi)
Sài Gòn
Ngô Đình Nhu và Lyndon B. Johnson tại dinh Gia Long, Sài Gòn, ngày 12 tháng 5 năm 1961

Ngô Đình Nhu (chữ Hán: 吳廷柔; 1910-1963) là một nhà lưu trữ và một chính trị gia Việt Nam. Ông nổi tiếng với danh nghĩa là cố vấn chính trị cho anh mình là Tổng thống Việt Nam Cộng hòa Ngô Đình Diệm; tuy nhiên, hầu hết các tài liệu lịch sử đều nhận định ông là kiến trúc sư của mọi chủ trương, chính sách của nền Đệ nhất Cộng hòa Việt Nam.[1] Ông còn được đánh giá là một nhà lưu trữ xuất sắc, từng làm việc tại Sở Lưu trữ và Thư viện Đông Dương (từ năm 1938), từng giữ vai trò Chủ tọa Hội đồng Cứu nguy Châu bản và Cố vấn Kỹ thuật (1942-1944), Phó giám đốc Sở Lưu trữ và Thư viện Đông Dương (1945), và Giám đốc Nha Lưu trữ Công văn và Thư viện toàn quốc (từ sau tháng 8 năm 1945).[2]

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Giai đoạn trước năm 1945[sửa | sửa mã nguồn]

Ông sinh ngày 7 tháng 10 năm 1910 tại làng Phước Quả, tổng Cư Chánh, huyện Hương Thủy, phủ Thừa Thiên (nay thuộc phường Phước Vĩnh, thành phố Huế); quê quán ở làng Đại Phong, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình. Thân phụ ông là Ngô Đình Khả, Thượng thư Bộ Lễ dưới triều vua Thành Thái.[2] Chữ Nhu () trong tên ông do thân phụ đặt với ý nghĩa "làm cho người nể phục".

Khác với hai người anh của mình là Ngô Đình KhôiNgô Đình Diệm, vốn xuất thân Nho học và ra làm quan cho nhà Nguyễn, Ngô Đình Nhu lại theo Tây học. Năm 1938, ông tốt nghiệp ngành lưu trữ tài liệu cổ (archiviste paléographe) của Trường pháp điển quốc gia (École nationale des chartres) ở Paris, Pháp[3][4][5].

Năm 1938, ông về nước làm việc ở Văn khố Phủ toàn quyền Đông Dương (Hà Nội)[4]. Năm 1943, Ngô Đình Nhu chuyển sang làm giám đốc văn khố Tòa khâm sứ Huế. Về sau được văn phòng Nam triều mời giữ chức chủ tịch hội đồng chỉnh đốn châu bản và văn khố nhà Nguyễn [4]

Giai đoạn 1945-1954[sửa | sửa mã nguồn]

Sau Cách mạng tháng Tám, Ngô Đình Nhu được Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cử làm Giám đốc Nha Lưu trữ công văn và Thư viện Quốc gia tại Hà Nội (Sắc lệnh số 21, ký ngày 8-9-1945 của Chính phủ Lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa do Bộ trưởng Bộ Nội vụ Võ Nguyên Giáp ký), nhưng khi quan hệ giữa Việt Minh và các đảng phái khác theo chủ nghĩa quốc gia xấu đi, hai người anh của ông là Ngô Đình Khôi bị Việt Minh thủ tiêu, Ngô Đình Diệm bị Việt Minh bắt giam. Ông cũng bị Việt Minh bắt giam sau đó được thả rồi lưu vong sang Lào.[cần dẫn nguồn]

Năm 1948, Ngô Đình Nhu về nước sống ẩn dật ở Đà Lạt và thỉnh thoảng xuống Sài Gòn móc nối thông tin.[6] Từ thập niên 1950, ông bắt đầu hoạt động chính trị bằng việc thành lập Liên đoàn Lao động Công giáo.

Ông là cha đẻ của Đảng Cần Lao, dựa vào thuyết Nhân Vị (personnalisme) đúc kết xu hướng của hai triết gia công giáo Emmanuel MounierJacques Maritain.

Giai đoạn 1954-1963[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1954, khi Ngô Đình Diệm lên cầm quyền, ông thành lập Đảng Cần lao Nhân vị, dựa vào một chủ thuyết do ông khởi xướng là học thuyết Cần lao - Nhân vị để hỗ trợ chính quyền của anh ông. Dưới sự giúp đỡ của người Mỹ, Đảng Cần lao Nhân vị phát triển lên nhanh chóng, thâm nhập vào hàng ngũ quân đội, công chức, trí thức và cả giới kinh doanh và trở thành chính đảng lớn nhất thời bấy giờ. Đồng thời, ông cũng cho thành lập một tổ chức có tên là "Thanh niên Cộng hòa", theo mô hình đảng sơ-mi nâu của Adolf Hitler, do ông làm Tổng thủ lãnh. Một tổ chức khác dành cho phụ nữ có tên là "Phụ nữ liên đới" cũng được thành lập và do vợ ông làm Tổng thủ lãnh. Ông là Chủ tịch Ủy ban Liên bộ đặc trách Ấp chiến lược, tổ chức thực hiện kế hoạch quốc phòng Ấp chiến lược từng gây khó khăn cho những người cộng sản miền Nam.

Về danh nghĩa, ông chỉ là một cố vấn chính trị, nhưng hầu hết các tài liệu đều ghi nhận ông là kiến trúc sư của chế độ, là người khởi xướng mọi chủ trương chính sách của nền Đệ nhất cộng hòa.[1] Ông cũng cho lập và trực tiếp khống chế nhiều cơ quan tình báomật vụ (lúc cao trào có tới 13 cơ quan) với những quyền lực to lớn như được quyền bắt giam người không cần xét xử.

Từ năm 1958, Ngô Đình Nhu bắt đầu tổ chức vận chuyển thuốc phiện từ Lào về Sài Gòn để tiêu thụ một phần tại đây, phần còn lại được vận chuyển sang Marseille, Pháp để có tiền duy trì hoạt động của các cơ quan tình báo và mật vụ dưới quyền ông.[7]

Tuy nhiên, do tính chất độc tài gia đình trị, cộng với những biện pháp tàn bạo đối với những người bất đồng chính kiến[cần dẫn nguồn] dẫn đến việc ông bị xem là có trách nhiệm cho sự sụp đổ của nền Đệ nhất cộng hòa. Đặc biệt là việc trấn áp Phật giáo trong biến cố Phật giáo, 1963 khiến chính phủ Việt Nam Cộng hòa mất uy tín và bị phân hóa. Ngày 1 tháng 11 năm 1963, các tướng lĩnh đã thực hiện cuộc đảo chính quân sự lật đổ tổng thống Ngô Đình Diệm. Ngô Đình Nhu và người anh phải chạy trốn vào nhà thờ Cha Tam. Ngày 2 tháng 11 năm 1963, người ta thấy một đoàn xe quân sự đến đón hai anh em ông về Bộ Tổng tham mưu. Khi chiếc thiết giáp M 113 chở hai anh em ông về đến nơi thì phát hiện thi thể của hai anh em ông với nhiều vết dao và dấu đạn trên người.

Ông là người có công lao lưu giữ Mộc bản triều Nguyễn. Số mộc bản này hiện đang bảo quản tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia IV - Đà Lạt, Lâm Đồng (xưa và nay vẫn là Biệt điện Trần Lệ Xuân [8] - Khu Di tích của TP. Đà Lạt).[9]

Các câu nói nổi tiếng[sửa | sửa mã nguồn]

Cộng sản có gì hay mà ta phải học![10]
Muốn phục vụ con người trong xã hội thì con người đó phải tiến, xã hội đó phải tiến. Nhưng xã hội chỉ tiến được với những con người có ý thức nhiệm vụ. Cho nên, trên nguyên tắc, chúng ta phải nhìn nhận rằng cần phải có một ý thức hệ tiến bộ. Ý Thức Hệ chúng tôi chủ trương là Ý Thức Hệ Nhân Vị. Về Tư Tưởng Nhân Vị có nhiều thứ. Có thứ họ căn cứ vào một tín ngưỡng hữu hình, một tín ngưỡng chắc chắn, căn bản. Có thứ lại nhuốm phần nào vô thức...Ý thức hệ Nhân Vị chúng tôi chủ trương nó rất rộng rãi và không cần phải đi sâu vào các đạo giáo. Tất cả các đạo giáo, tất cả các triết lý khác, có thể cùng đi với chúng ta được trong ý thức hệ đó.[11]

Hình ảnh trong văn học và điện ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Hình ảnh ông Ngô Đình Nhu được thể hiện qua một nhân vật trong tiểu thuyết Ông cố vấn: Hồ sơ một điệp viên của nhà văn Hữu Mai, và được phác họa qua một nhân vật trong bộ phim Ván bài lật ngửa, kịch bản của Nguyễn Trương Thiên Lý.

Nhận xét[sửa | sửa mã nguồn]

Chính đề Việt Nam

Trong cuộc họp nội các Đảng Cần lao Nhân vị sau khi thành lập chính phủ 1956:

... Chúng ta thuộc về một gia đình mà vận mệnh của nó gắn liền với quốc gia.[cần dẫn nguồn]

Tướng Cao Văn Viên, trong một cuộc phỏng vấn cuối đời, đã có nhận định về Ngô Đình Nhu cũng như so sánh Ngô Đình Nhu với Ngô Đình Diệm như sau:

... ông Ngô Đình Diệm chỉ là một symbol, một biểu tượng mà thôi, ông không thể làm gì nếu không có cố vấn Nhu bên cạnh. Tất cả các bài diễn văn của Tổng thống Diệm đều do ông Nhu soạn thảo. Khổ nỗi, Hoa kỳ muốn tách ông Nhu khỏi ông Diệm. Ông Nhu là một trở ngại. Trở ngại lớn hơn Tổng thống Diệm. Vì ông Nhu có nhiều mưu lược. Ông Nhu chống Mỹ hơn chống Pháp. Tổng thống Diệm thì trái lại.[12]

Thực lực của đảng Cần Lao Nhân Vị - chính đảng do Ngô Đình Nhu lập ra, cũng được Cao Văn Viên nhận xét:

... Đảng Cần Lao - dựa vào thuyết Cần Lao Nhân Vị - tổ chức quy củ hơn, với sự chỉ huy trực tiếp của hai ông Nhu và Cẩn, đi sâu vào Quân Đội với các quân ủy, như Cộng sản. Đảng Dân chủ yếu hơn, không dựa vào cương lĩnh vững chắc nào, chỉ có hình thức, được ông Thiệu thành lập để củng cố địa vị, không có ảnh hưởng trong Quân đội và quần chúng.[cần dẫn nguồn]

Tác phẩm[sửa | sửa mã nguồn]

  • Les moeurs et les coutumes des Annamites du Tonkin au xviie siècle (Những phong tục và tập quán của người An Nam ở Đằng Ngoài thế kỷ XVII), luận văn ở École nationale des chartes, 1938.[5]
  • Tùng Phong, Chính đề Việt Nam, Nhà xuất bản Đồng Nai, Sài Gòn, 1964. (Có người cho Tùng Phong là Ngô Đình Nhu, cũng có người cho Tùng Phong là Lê Văn Đồng. Hiện nay, ai là tác giả thật sự của Chính đề Việt Nam vẫn chưa được xác định thống nhất.[13][14])
  • Trong khoảng thời gian từ tháng 2 năm 1938 đến giữa năm 1942, cộng tác với Paul Boudet và Rémi Bourgeois biên soạn và xuất bản các tập 2, 3 và 4 của bộ Đông Dương pháp chế toàn tập (Recueil général de la Legislation et de la Règlementation de l’ Indochine).[2]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă Ngô Đình Nhu, một nhà chiến lược trang 6[nguồn không đáng tin]
  2. ^ a ă â Đào Thị Diến. “Ngô Đình Nhu-Nhà lưu trữ Việt Nam thời kỳ 1938-1946/Ngô Đình Nhu, the Vietnamese archivist during the period of 1938 to 1946”. Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển, S. 6-7 (2013). 
  3. ^ Ronald B. Frankum Jr, Historical Dictionary of the War in Vietnam, page 319, Scarecrow Press, 2011
  4. ^ a ă â Tử ngục Chín Hầm và những điều ít biết về Ngô Đình Cẩn, Dương Phước Thu, NXB Thuận Hóa. tr 33
  5. ^ a ă Danh sách luận văn của các sinh viên tốt nghiệp năm 1938 tại trường École nationale des chartes, Thèses de l'École nationale des chartes
  6. ^ Văn Chinh (24/8/2008). “Những điều chưa biết về Ngô Đình Nhu”. Báo Điện tử Tổ Quốc của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch. Bản gốc lưu trữ 24/8/2008. Truy cập 23/6/2011. 
  7. ^ Bradley S. O'Leary & Edward Lee, The deaths of the Cold War kings: the assassinations of Diem & JFK, page 45, Cemetery Dance Publications, 2000, ISBN 9781587670329
  8. ^ VH (18/09/2009). “Khu biệt điện Trần Lệ Xuân được UNESCO công nhận là di sản tư liệu”. Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam. Bản gốc lưu trữ 18/09/2009. Truy cập 23/6/2011. 
  9. ^ TTXVN/Vietnam+ (14/12/2009). “Mộc bản triều Nguyễn sắp nhận bằng di sản thế giới”. VietnamPlus, TTXVN. Bản gốc lưu trữ 14/12/2009. Truy cập 23/6/2011. 
  10. ^ Ông Cố Vấn Ngô Đình Nhu
  11. ^ Nguyễn Văn Minh (2003). Dòng họ Ngô Đình, ước mơ chưa đạt. Hoàng Nguyên. tr. 421. 
  12. ^ Lâm Lễ Trinh: Mạn Đàm Với Đại Tướng Cao Văn Viên, Về Nguồn, Thuỷ Hoa Trang 2006
  13. ^ Chính đề Việt Nam (Tùng Phong Lê Văn Đồng)
  14. ^ Thử xác định tác giả của Chính đề Việt Nam qua chính nội dung của cuốn sách này

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]