Ngô Kinh

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Ngô Kinh
Hán tự 吳京
Tên khác Jacky Wu, Jason Wu
Năm hoạt động 1995 - nay
Trang web chính thức http://www.wujing.com.cn/

Ngô Kinh (Hán tự: 吳京, Wu Jing; tên tiếng Anh: Jason Wu hay Jacky Wu, sinh ngày 3 tháng 4, 1974) là một nam diễn viên, võ sĩ và đạo diễn người Trung Quốc, anh nổi tiếng với thể loại phim truyền hìnhđiện ảnh võ thuật của Hồng Kông.[1][2] ngày 11/5/2014 anh kết hôn với bạn gái điễn viên, MC Tạ Nam.

Thiếu niên[sửa | sửa mã nguồn]

Ngô Kinh thuộc dòng dõi "Chính Hoàng Kỳ", một trong "Thượng Tam Kỳ" của Hoàng tộc Mãn Châu[3]. Anh sinh trưởng tại Bắc Kinh – Trung Quốc trong một gia đình nhà võ. Anh là con một, từ nhỏ đã được cha quản lý chặt chẽ vì tính khí nghịch ngợm, hiếu động của mình.[4]

Năm 6 tuổi, anh được đưa vào học võ tại viện võ thuật Bắc KinhThập Sát Hải. Năm 13 tuổi, anh được chọn vào đội tuyển Wushu Bắc Kinh. Tại đây anh làm quen với những tháng ngày luyện tập vất vả dưới sự chỉ dẫn của sư phụ Ngô Bân, người từng đào tạo cho Lý Liên Kiệt, Chân Tử ĐanTriệu Văn Trác[4][5][6]. Thời gian sau, do tập luyện quá mức, anh bị thoái hóa xương cột sống, dẫn đến tê liệt hai chân chỉ có thể nằm một chỗ trong bệnh viện. Tuy vậy Ngô Kinh không tỏ ra bi quan, anh kiên trì chống chọi với bệnh tật mà không chịu dùng thuốc giảm đau.[2][4][7]

Sau khi xuất viện, mặc dù đôi chân vẫn chưa khỏi hẳn, nhưng anh vẫn quyết tâm trở lại lớp tập thể lực như bao bạn khác. Sư phụ Ngô Bân đã giúp đỡ Ngô Kinh vượt qua những khó khăn trong thời gian này, ông đã đưa anh đến với những cuộc thi võ thuật, lúc này anh được 16 tuổi. Trong vòng hai năm, anh đã đem về hàng loạt các danh hiệu quán quân toàn quốc của các nội dung như quyền, đao, thương...[4]

Năm 1992 (18 tuổi), một chấn thương trong khi thi đấu đã khiến cho chân phải của Ngô Kinh bị thương nghiêm trọng dẫn đến nguy cơ tàn phế, điều đó khiến anh cảm thấy rất hụt hẫng, nản chí. Anh dọn ra ở riêng, xa lánh bạn bè, gia đình. Đến một hôm, khi đi chợ mua thực phẩm, Ngô Kinh bắt gặp bọn xấu đang cưỡng hiếp một cô gái, anh không nhịn được đã ra tay đánh đuổi bọn chúng, sau đó mới nhận ra chân phải của mình đã có cảm giác[8]. Vì việc làm này, Ngô Kinh được tuyên dương trên báo đài. Anh có niềm tin trở lại và quyết tâm chữa trị bằng vật lý trị liệu.

Năm 1994, vết thương lành, anh trở lại trường thể dục thể thao. Một năm sau, giống như Thành Long và Chân Tử Đan, võ sĩ Ngô Kinh bước vào con đường của một diễn viên võ thuật dưới sự dẫn dắt của Viên Hòa Bình.

Sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1995, đoàn làm phim điện ảnh Thái Cực quyền của Hồng Kông đến trường Thể dục thể thao Bắc Kinh để tìm một nam diễn viên có căn bản võ thuật cho phim, và Ngô Kinh đã được Viên Hòa Bình chọn. Khó khăn lắm đạo diễn này mới thuyết phục được nhà trường cho mượn Ngô Kinh trong 4 tháng, vì vào thời điểm đó Ngô Kinh cũng đang chuẩn bị đi thi đấu võ thuật toàn quốc.[4]

Trong vai diễn đầu đời, được hợp tác với các đạo diễn nổi tiếng: Trương Toàn Viêm, Viên Hòa Bình, lại đóng chung với diễn viên gợi cảm Chung Lệ Đề, khiến Ngô Kinh không tránh khỏi sự hồi hộp. Anh không diễn tả hết tình cảm của nhân vật và tệ nhất là mỗi lần diễn cảnh đánh nhau, anh đều đánh thật và rất mạnh tay với bạn diễn, vì không biết đánh thế nào cho vừa phải [cần dẫn nguồn]. Nhưng bù lại, gương mặt ngây thơ, trong sáng của anh đã thuyết phục đạo diễn và khán giả.

Thái Cực quyền ra mắt thành công. Ngô Kinh được Trương Toàn Viêm mời tiếp vào Công phu tiểu tử phá tình quan trong năm đó, và phim cũng được khán giả đón nhận.[2][4] Thành công bước đầu với điện ảnh đã góp phần dẫn Ngô Kinh rời khỏi trường lớp để đi vào con đường diễn xuất chuyên nghiệp.[4]

Nổi tiếng trên màn ảnh nhỏ[sửa | sửa mã nguồn]

Rời khỏi trường học, Ngô Kinh tham gia vào hai bộ phim truyền hình cổ trang của Viên Hòa Bình là Thái cực tôn sưThiếu Lâm tự (hợp tác cùng Phàn Thiếu Hoàng, Chu Ân, Tiền Gia Lạc...). Vai diễn của Ngô Kinh trong Thiếu Lâm tự được giới chuyên môn đem ra so sánh với Lý Liên Kiệt, người từng đóng vai này trong bộ phim điện ảnh cùng tên vào năm 1982.

Những loạt phim truyền hình kể trên đã bước đầu khiến Ngô Kinh được nhiều khán giả yêu thích. Tuy vậy, các đạo diễn cho rằng anh chỉ giỏi biểu diễn các màn võ thuật đơn thuần chứ không giỏi diễn tả tâm lý nhân vật, nên không dám mời anh vào những vai diễn đòi hỏi nhiều về diễn xuất nội tâm. Chỉ đến khi Ngô Kinh thể hiện khá tốt vai Càn Long trong phim Giang sơn làm trọng thì các đạo diễn mới nhìn nhận khả năng của anh.[2]

Thuở ban đầu thành công với điện ảnh, nhưng sau đó có vẻ như Ngô Kinh lại nổi tiếng nhiều hơn nhờ các phim truyền hình: từ năm 1996 đến 2006, Ngô Kinh tham gia khá nhiều tác phẩm truyền hình: Loạn thế đào hoa, Đốt cháy Thiên Lâm tự, Tiểu Lý phi đao, Hậu thuỷ hử, Thiếu Lâm võ vương, Hiệp nữ u hồn, Võ Đang II, Nam Thiếu Lâm....[2]

Tiến vào điện ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 2001, Ngô Kinh được Viên Hoà Bình tiến cử với Từ Khắc để anh cùng hợp tác với những tên tuổi như Trịnh Y Kiện, Trương Bách Chi, Cổ Thiên Lạc...trong bộ phim điện ảnh Thục Sơn kỳ hiệp. Tuy vậy, Thục Sơn kỳ hiệp lại là một trong những phim không thành công của Từ Khắc do dùng kỹ xảo quá nhiều. Năm sau, đạo diễn võ thuật nổi tiếng Lưu Gia Lương mời anh đóng bộ Túy mã lưu, trong đó anh đã diễn tả những môn võ hầu quyềntúy quyền khá đặc sắc, nhưng rồi phim vẫn không thành công như mong đợi.

Năm 2005, anh góp mặt trong hai phim điện ảnh: Nhất tiễn song điêuSát Phá Lang. Trong đó, vai diễn đặc biệt trong phim Sát Phá Lang của Diệp Vỹ Tín đã đánh dấu một bước quan trọng trong sự nghiệp điện ảnh của anh. Trong phim này, lần đầu tiên Ngô Kinh đóng vai phản diện: anh vào vai Jack, một sát thủ có vẻ mặt cô hồn, tính cách lạnh lùng tàn bạo, chỉ biết tuân lệnh cấp trên. Bộ phim là sự quy tụ của ba thế hệ diễn viên võ thuật: Hồng Kim Bảo, Chân Tử Đan và Ngô Kinh. Ngô Kinh đã có một trận đấu tay đôi với Chân Tử Đan ở đoạn gần cuối phim, đó trở thành trận giao đấu ấn tượng nhất của bộ phim.[4]

Thành công của Sát Phá Lang đã khiến Ngô Kinh được nhiều nhà làm điện ảnh chú ý. Từ năm 2006 đến 2008, anh có 7 tác phẩm điện ảnh, trong đó có một số phim ăn khách: Hắc quyền (2006), Nam nhi bản sắc (hay Bản sắc anh hùng), Điệp vụ song sinh (2007) và một phim của Hollywood: Xác ướp Ai Cập III (2008).

Phim ra mắt gần đây nhất của anh là Huyền thoại sát thủ (Legendary Assassin), sản xuất năm 2008, đây cũng là lần đầu tiên Ngô Kinh thử sức trong vai trò đạo diễn.[9] . Đầu năm 2009, anh cho biết mình đang tham gia đóng trong bộ phim điện ảnh Cơ khí hiệp (機器俠).

đại sứ thương hiệu Rongo gate.[sửa | sửa mã nguồn]

Phim đã đóng[sửa | sửa mã nguồn]

Điện ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

  • Thái Cực quyền II (1996)
  • Thục Sơn kỳ hiệp (2001)
  • Túy mã lưu (2002)
  • Sát Phá Lang (2005)
  • Nhất tiễn song điêu (2005)
  • Hắc quyền (2006)
  • may mắn từ trên trời rơi xuống (2006)
  • Điệp vụ song sinh (2007)
  • Nam nhi bản sắc (2007)
  • Fatal move (2008)
  • L For Love, L For Lies (2008)
  • Xác ướp Ai Cập III (2008)
  • Huyền thoại sát thủ (2008)
  • Cơ khí hiệp (2009)
  • 36 chước yêu (2009)
  • Toàn thành giới bị (2010)
  • Nguyệt quang bảo hợp (2010)
  • Tây phong liệt (2011)
  • Tân thiếu lâm tự (2011)
  • Khai tâm ma pháp (2012)
  • Bất Nhị Thần Thám (2013)
  • Chiến Lang (2014)

Truyền hình[sửa | sửa mã nguồn]

  • Thái cực tôn sư (1997)
  • Thiếu lâm tự (1998)
  • Hậu thủy hử (1999)
  • Tiểu lý phi đao (1999)
  • Loạn thế đào hoa (2000)
  • Đại nhân vật (2000)
  • Vó ngựa tây phong (2000)
  • Hổ phụ sinh hổ tử (2001)
  • Giang sơn nhi nữ kỷ đa tình (2001)
  • Đại khâm sai (2002)
  • Thiếu lâm võ vương (2002)
  • Giang sơn vi trọng (2002)
  • Nam thiếu lâm (2002)
  • Thiện nữ u Hồn (2003)
  • Trong mắt anh chỉ có em (2003)
  • Tân thiên tằm biến (2003
  • Nam thiếu lâm tam thập lục phòng (2004)
  • Anh hùng thủy hử (2005)
  • Võ Đang 2 (2005)
  • Tôi là đặc chủng binh 2 - Quốc chi lợi nhận (2012)

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Web, blog[sửa | sửa mã nguồn]

Clip các pha hành động[sửa | sửa mã nguồn]