Ngô Quang Trưởng

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Ngô Quang Trưởng
Tiểu sử
Sinh

13 tháng 12, 1929(1929-12-13)

Bến Tre
Mất

22 tháng 1, 2007 (77 tuổi)

Virginia
Binh nghiệp
Thuộc Flag of the South Vietnamese Army.jpg Quân lực Việt Nam Cộng hòa
Năm tại ngũ 1954-1975
Cấp bậc Trung tướng
Đơn vị Sư đoàn 1 Bộ binh Quân lực Việt Nam Cộng hòa
Chỉ huy Flag of South Vietnam.svg Quân đội Quốc gia Việt Nam
Flag of the South Vietnamese Army.jpg Quân lực Việt Nam Cộng hòa
Tham chiến Sự kiện Tết Mậu Thân
Chiến dịch Trị Thiên
Chiến dịch Huế - Đà Nẵng

Ngô Quang Trưởng (13 tháng 12 năm 192922 tháng 1 năm 2007) sinh ra tại tỉnh Kiến Hòa, là một trung tướng trong Quân lực Việt Nam Cộng hòa, phục vụ trong những năm 19541975. Ông được miền Nam xem là người hùng Quảng Trị khi đánh bật Cộng sản Bắc Việt và tái chiếm được Thành cổ Quảng Trị năm 1972. Sau khi Sài Gòn thất thủ, Ngô Quang Trưởng sang Hoa Kỳ và sống ở tiểu bang Virginia cho tới khi mất.

Con đường binh nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Ngô Quang Trưởng tốt nghiệp Khóa 4 Liên trường Võ khoa Sĩ quan Trừ bị Thủ Đức năm 1954, ra trường được bổ nhiệm đại đội trưởng đại đội 1, Tiểu đoàn 5 Nhảy dù. Khi trận Điện Biên Phủ đang diễn ra, đơn vị của ông được phân công nhảy dù xuống Điện Biên Phủ để tăng viện cho quân Pháp ở đây. Tuy nhiên đơn vị chưa kịp điều động thì Điện Biên Phủ thất thủ, ông tránh khỏi được việc bị bắt làm tù binh như tướng Phạm Văn Phú.

  • Năm 1955, ông tham gia cuộc tiễu trừ lực lượng Bình Xuyên và được đặc cách thăng cấp trung úy tại mặt trận.
  • Năm 1963, ông thăng cấp đại úy.
  • Năm 1964, ông thăng cấp thiếu tá và được bổ nhiệm Tiểu đoàn trưởng Tiểu Đoàn 5 Nhảy Dù (TĐ5ND). Cùng năm 1964, TĐ5ND do ông chỉ huy trực thăng vận nhảy vào mật khu Đỗ Xá, thuộc quận Minh Long, tỉnh Quảng Ngãi, phá vỡ căn cứ địa của Bộ Tư lệnh Mặt Trận B1 của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam Việt Nam (MTGPMNVN), tịch thu 160 súng đủ loại.
  • Năm 1965, Tiểu Đoàn 5 Nhảy Dù do ông chỉ huy trực thăng vận nhảy vào mật khu Hắc Dịch, thuộc vùng núi ông Trinh, tỉnh Phước Tuy (Bà Rịa), căn cứ của Công Trường 7 MTGPMNVN. Sau hai ngày chạm súng và gây thiệt hại nặng cho hai Trung Đoàn Q762 và Q762 thuộc Công Trường 7, ông được đặc cách thăng cấp trung tá tại mặt trận và được tưởng thưởng Đệ Tứ Đẳng Bảo Quốc Huân Chương.
  • Năm 1965 sau trận Hắc Dịch, ông được bổ nhiệm chức vụ Tham mưu trưởng Lữ Đoàn Nhảy Dù. Đến cuối năm 1965, bổ nhiệm Tham mưu trưởng Sư Đoàn Nhảy Dù. Ông được thăng cấp đại tá (năm 1966) khi giữ chức Tư lệnh phó Sư đoàn Nhảy Dù.
  • Năm 1967, các đơn vị thuộc SĐ1BB do ông chỉ huy, gồm Đại Đội Hắc Báo Trinh Sát, cùng Chi Đoàn 2/7 Thiết Vận Xa M113, tăng phái Tiểu Đoàn 9 Nhảy dù do Thiếu tá Nguyễn Thế Nhã chỉ huy, tấn công và phá vỡ hạ tầng cơ sở và toàn bộ lực lượng du kích địa phương thuộc mặt trận Lương Cổ-Đồng Xuyên-Mỹ Xá thuộc quận Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên. Sau trận này ông được đặc cách thăng cấp chuẩn tướng (theo nguyên tắc của quân đội những người tốt nghiệp sĩ quan Thủ Đức chỉ được phong hàm tới Đại Tá).
  • Năm 1968, các đơn vị thuộc SĐ1BB do ông chỉ huy, tăng phái Chiến Đoàn I Nhảy Dù (gồm các Tiểu Đoàn 2, 7 và 9 Nhảy Dù) do Trung tá Lê Quang Lưởng chỉ huy đã phòng thủ thành công tại Huế trong 26 ngày (30 tháng 1 đến 24 tháng 2, 1968). Các đơn vị này đẩy bật các đơn vị xung kích của Quân Giải phóng miền Nam, gồm Đoàn 5 (các Tiểu Đoàn K4A, K4B, TĐ 12 đặc công nội thành, Thành Đoàn Huế) Đoàn 6 (các Tiểu Đoàn K41, K6, TĐ 13 đặc công nội thành Huế, các Đại đội đặc công 15,16,17,18, tăng cường một đại đội súng phòng không 37mm, hai đại đội du kích quận Hương Trà, Phong Điền, hai đại đội biệt nội thành Huế), và hai Tiểu Đoàn 416,418 thuộc Đoàn Cù Chính Lan (Đoàn 9). Tướng Trưởng và các đơn vị của ông đã giữ vững Huế và gây thiệt hại nặng nề cho các đơn vị tấn công Huế. Sau trận Mậu Thân ông được đặc cách thăng cấp thiếu tướng (tháng 5 năm 1968) và được bổ nhiệm chức vụ tư lệnh Quân đoàn IV, Quân khu IV.
  • Năm 1972, Quân Giải phóng miền NamQuân đội Nhân dân Việt Nam mở chiến dịch Trị-Thiên. Lực lượng Quân lực Việt Nam Cộng hòa tại Quân khu I đã bị nhiều tổn thất. Tướng Ngô Quang Trưởng được điều động vào chức vụ Tư lệnh Quân đoàn I và Quân khu I thay thế tướng Hoàng Xuân Lãm. Quân khu I được tăng cường toàn bộ lượng tổng trừ bị của Quân lực Việt Nam Cộng hòa và được sự yểm trợ tầm xa bởi Hạm đội 7 Hoa Kỳ, đẩy lui và tái chiếm Thành cổ Quảng Trị và tất cả các phần đất bị chiếm phía Nam sông Mỹ Chánh, gây nhiều thiệt hại cho các đơn vị Quân Giải phóng miền Nam và Quân đội Nhân dân Việt Nam.
  • Năm 1975, Quân Giải phóng miền Nam và Quân đội Nhân dân Việt Nam mở chiến dịch Huế-Đà Nẵng. Với chức vụ Tư lệnh Quân đoàn I và Quân khu I, ông được lệnh tử thủ Huế, nhưng sau ít lâu lại nhận lệnh di tản toàn bộ Quân đoàn I vào Đà Nẵng. Cùng lúc đó tin tức về việc bỏ Cao Nguyên cùng dòng người tị nạn ước tính gần 2 triệu người ùn ùn đổ vào Đà Nẵng khiến thành phố trở nên hoảng loạn và không thể kiểm soát được. Tinh thần binh sĩ xuống rất thấp và do thiếu chuẩn bị, cuộc di tản hoàn toàn thất bại, tổn thất toàn bộ lực lượng quân sự và cơ giới của Quân đoàn I trong thời gian rất ngắn. Thiệt hại đáng kể nhất là việc quân đội Việt Nam Cộng Hòa mất hoàn toàn quyền kiểm soát vùng lãnh thổ có 3 triệu dân, và việc tan rã 4 sư đoàn quân chủ lực, trong đó có hai sư đoàn thuộc hàng thiện chiến nhất của Quân lực Việt Nam Cộng hòaSư đoàn 1 Bộ BinhSư đoàn Thủy quân Lục chiến, đưa đến sụp đổ toàn bộ miền Nam một cách nhanh chóng bất ngờ. Ông vào Sài Gòn và khai bệnh, dưỡng bệnh tại Sài Gòn cho đến khi Sài Gòn thất thủ. Ông di tản cùng gia đình qua Hoa Kỳ, định cư tại tiểu bang Virginia.

Ông cũng là một trong số ít tướng lãnh Quân lực Việt Nam Cộng Hòa được đánh giá là thanh liêm trong sạch "Nhất Thắng, nhì Chinh, tam Thanh, tứ Trưởng".

Trung tướng Quân lực Việt Nam Cộng hòa Ngô Quang Trưởng qua đời vào lúc 3 giờ 20 sáng ngày 22 tháng 1 năm 2007 tại Virginia[1].

Tro cốt của tướng Trưởng được gia đình rải trên ngọn đèo Hải Vân, Việt Nam, theo ước nguyện cuối cùng của ông.[2]

Các tác phẩm quân sự[sửa | sửa mã nguồn]

Bắt đầu năm 1979, theo lời mời của Trung tâm Quân sử Quân lực Hoa Kỳ (U.S. Army Center of Military History), ông ghi lại kinh nghiệm chiến đấu qua 3 quyển sách hiện còn lưu trữ tại trung tâm kể trên.

  • "The Easter Offensive of 1972" (1983),
  • "Territorial Forces" (1984), và
  • "RVANF and US Operational Cooperational Coordination" (1984).

Nhận định về Ngô Quang Trưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Trong hồi ký It does not take a hero của Đại tướng H. Norman Schwarzkopf, nguyên Tư lệnh Bộ chỉ huy Trung Đông và tư lệnh quân đội đồng minh trong chiến dịch Bão Táp Sa Mạc 1991, từng là cựu binh tại chiến trường Việt Nam, ông nhớ lại giai đoạn khi mình chiến đấu tại Việt Nam: "...Trung tướng Trưởng là người chỉ huy chiến thuật kiệt xuất nhất mà tôi từng được biết... Đại tá Ngô Quang Trưởng là tham mưu trưởng của tướng Đống [Dư quốc Đống]. Ông ta không giống hình ảnh một thiên tài quân sự mà tôi thường nghĩ đến: cao chỉ 5 bộ 7 (chừng 1,70 m), ở lứa tuổi giữa bốn mươi, rất ốm, với lưng gù và có cái đầu dường như quá to so với thân hình của ông. Gương mặt ông nhăn nhúm và rắn rỏi, không đẹp trai tí nào cả, và trên miệng ông luôn có điếu thuốc lá. Thế mà ông được những viên chức và binh lính của ông kính nể - và làm kinh sợ những cấp chỉ huy của miền Bắc, những người biết khả năng của ông. Bất cứ khi nào có một chuyện hành quân mưu mẹo đặc biệt nào đó xảy ra, Đống đặt ông vào nhiệm vụ chỉ huy."[cần dẫn nguồn]

Trung tá George W. Smith, nguyên cố vấn Sư đoàn 1 Bộ binh, trong bút ký The Siege at Hue viết: "General Truong was tough, disciplined, and dedicated to his military profession. Unlike many of his contemporaries who had climbed the ranks through political influence, nepotism, or cold, hard cash, he had earned his stars on the battlefield. He was viewed as a self-starter, without a hint of corruption or ego. He was regarded by the Americans as unquestionably the finest senior combat commander in the South Vietnamese army."; tạm dịch: "Tướng Trưởng là một người cứng rắn, kỷ luật và hết lòng với binh nghiệp. Không như một số đồng liêu của ông thăng quan tiến chức bằng quen biết hay lo lót, ông đeo sao trên vai bằng chiến công tại mặt trận. Ông là người cần mẫn, thanh liêm và không tự cao tự đại. Người Mỹ cho rằng ai cũng phải nhìn nhận ông là người chỉ huy chiến đấu tài giỏi nhất của quân đội Nam Việt Nam."[cần dẫn nguồn]

Viết về cuộc lui quân của Quân đoàn I QLVNCH trong tháng 3 năm 1975, tiến sĩ Nguyễn Đức Phương, một cựu sĩ quan trong QLVNCH nhân định như sau: "...hệ thống chỉ huy của Bộ Tư lệnh Quân đoàn I đã không chu toàn trách nhiệm trong giai đoạn khó khăn nhất của một cuộc hành quân...", và nhận định "tướng Trưởng là vị tư lệnh quân đoàn thiếu khả năng điều động một bộ tham mưu hỗn hợp..."[cần dẫn nguồn]

Thiếu tá Phạm Huấn, nhà báo quân đội của QLVNCH viết "...Những người ngưỡng mộ và kính phục tướng Ngô Quang Trưởng đều nghĩ rằng sự thảm bại này cuộc lui binh của Quân Đoàn I là hậu quả của quyết đinh sai lầm trong chiến lược 'đầu bé đít to' của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu. Nhưng theo thời gian, những bí mật được tiết lộ. Tướng Trưởng cũng là người phải chịu trách nhiệm nặng nề nhất đối với thất bại trong hai cuộc rút quân tồi tệ, thê thảm từ Huế và Đà Nẵng..."[cần dẫn nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Chiến Tranh Việt Nam Toàn Tập, Tiến Sĩ Nguyễn Đức Phương, nxb Làng Văn, Canada, 2001
  • Đề Cương Tuyên Truyền Kỷ Niệm 60 Năm Ngày Thành Lập QĐND Việt Nam, Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương Đảng CSVN, Hà Nội, 2005
  • Decent Interval, Frank Snepp, Penguin Books, New York, 1980
  • Những Cột Trụ Chống Giữ Quê Hương, Phan Nhật Nam, nxb Nắng Mới Miền Nam, California, 2003
  • Những uất hận trong trận chiến mất nước 1975, Đại tá Phạm Huấn, tác giả tự xuất bản, San Jose, 1988
  • 55 ngày & 55 đêm: Cuộc sụp đổ của VNCH, Chính Đạo, Houston: Văn hóa, 1999
  • It Doesn't Take a Hero, General H. Norman Schwarzkopf, Bantam Books, New York, 1993
  • The Easter Offensive of 1972, Lt. General Ngo Quang Truong, U.S. Army Center of Military History, Washington, D.C. - Indochina Monograph Series, 1979
  • The Siege at Hue, George W. Smith, Lynne Rienenr Publishing, London, 1999.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]