Ngô Viết Thụ
Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
| Ngô Viết Thụ | |
| Sinh | 17 tháng 9 năm 1926 Thừa Thiên-Huế |
|---|---|
| Mất | 9 tháng 3 năm 2000 (73 tuổi) Thành phố Hồ Chí Minh |
| Quốc tịch | Việt Nam |
| Nghề nghiệp | Kiến trúc sư |
Ngô Viết Thụ (17 tháng 9 năm 1926–2000), là một kiến trúc sư Việt Nam. Ông đã đoạt giải Khôi nguyên La Mã năm 1955, là tác giả công trình kiến trúc hiện đại như Dinh Độc Lập, Viện Hạt nhân Đà Lạt
Mục lục |
[sửa] Tiểu sử
Ông Ngô Viết Thụ sinh tại tại làng Lang Xá, tỉnh Thừa Thiên-Huế. Ông lập gia đình với bà Võ Thị Cơ từ năm 1948, trong khi theo học dự bị kiến trúc tại trường Cao đẳng Kiến trúc tại Đà Lạt. Ông bà có tám người con, trong đó có một người con, TS. Ngô Viết Nam Sơn cũng là một kiến trúc sư và đô thị gia tốt nghiệp và làm việc tại Mỹ.
Trong giai đoạn 1950-1955, ông là sinh viên ngành kiến trúc tại trường Mỹ thuật Quốc gia Paris. Năm 1955, ông nhận giải nhất Giải thưởng lớn Rôma về kiến trúc, thường được gọi là khôi nguyên La mã, và tốt nghiệp kiến trúc sư D.P.L.G.. Trong thời gian 1955-1958, ông lưu trú tại Biệt thự Medicis của viện hàn lâm Pháp tại Roma để làm nghiên cứu về quy hoạch và kiến trúc.
Từ năm 1960, kiến trúc sư Ngô Viết Thụ về Việt Nam Cộng Hòa làm việc theo lời mời của Tổng thống Ngô Đình Diệm. Ông đã tổ chức triển lãm các dự án nghiên cứu của ông ở châu Âu tại Tòa Đô Chính Sài Gòn. Chính quyền và dư luận lúc ấy rất quan tâm đến dự án nối kết Sài Gòn với Chợ Lớn của ông bằng một khu trung tâm hành chính mới. Rất tiếc là vì lý do thời cuộc, dự án này không thực hiện được.
Năm 1962, ông là người châu Á đầu tiên trở thành Viện sĩ Danh dự của Viện Kiến trúc Hoa Kỳ (H.F. A.I.A.) cùng với một số kiến trúc sư danh tiếng cùng thời như J.H. Van den Broek, Arne Jacobsen, Steen Eiler Rasmussen, Hector Mestre, Amancio Williams, Hernan Larrain-Errazuriz, Emilio Duhart H., Jerzy Hryniewiecki và John B. Parkin.
Sau sự kiện 30 tháng 4, 1975, ông bị bắt đi học tập cải tạo một năm[1].
Ông đã thiết kế nhiều công trình xây dựng lưu dấu ấn đầy giá trị về kỹ thuật lẫn mỹ thuật. Nổi bật là Dinh Độc Lập (1961-1966), Viện Đại học Huế (1961-1963), Viện Nguyên tử Đà Lạt (nay thuộc Viện Năng lượng Nguyên tử Việt Nam) (1962-1965), Làng Đại học Thủ Đức (1962), Khu công nghiệp An Hòa Nông Sơn, Nhà máy dệt Phong Phú, khách sạn Hương Giang 1 tại Huế (1962), nhà thờ chính tòa Phủ Cam (1963), thương xá Tam Đa (Crystal Palace), Trụ sở Hàng không Việt Nam (1972), trường Đại học Nông nghiệp Thủ Đức (1975), ty Thủy lợi Đắc Lắc (1976), Bệnh viện Sông Bé (1985), Khách sạn Century Huế (1990), thánh đường Bảo Lộc (1995).
Ông còn cộng tác với nhiều KTS khác trong các công trình Viện Quốc Tế Mỷ Thuật Paris (với nhóm KTS Pháp, 1958-1960), chợ Đà Lạt (chỉnh sửa lại tổng thể thiết kế của KTS Nguyễn Duy Đức, bổ sung thiết kế cầu nổi và các khu phố lầu, 1958-1962), Trường Đại Học Y Khoa TP Sài Gòn (trưởng nhóm KTS Việt Nam, cộng tác với nhóm KTS Mỹ).
Ngoài ra, ông còn chứng tỏ năng lực xuất sắc của mình trong lĩnh vực hội họa với bức tranh "Thần Tốc" và bộ tranh Sơn hà cẩm tú. Bộ tranh này và được treo trong dinh Thống Nhất, gồm có 7 bức, mỗi bức dài 2 m và rộng 1 m. Ông cũng là một nghệ sĩ sành sỏi các loại nhạc cụ dân tộc như đàn nguyệt, đàn tranh, đàn kìm và sáo, để lại hàng trăm bài thơ và bài viết.
Ông qua đời năm ngày 9 tháng 3 năm 2000 tại Thành phố Hồ Chí Minh.
[sửa] Một số công trình
|
Trường ĐHSP Huế nhìn từ trên cao, hai tòa nhà chữ Y là giảng đường. |
[sửa] Chú thích
- ^ Mitchell Owens, “STYLE: Madame Nhu Almost Slept Here”, The New York Times, 12 tháng 1, 2003. Truy cập 2 tháng 11 năm 2007.


