Ngũ Bá

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Vào thời Xuân Thu trong lịch sử Trung Quốc, một số nước chư hầu lớn mạnh nổi lên xưng bá - đứng đầu các nước chư hầu khác; tên gọi Ngũ Bá (tiếng Trung: 五霸) chỉ một số nhà nước này.

Trong tiếng Trung Quốc cổ đại, “霸” (bá) đồng nghĩa và đồng âm với “伯”, để chỉ người trùm trưởng hoặc người anh cả. Cả "五霸" và "五伯" đều để chỉ "Ngũ Bá".

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Vào thời phong kiến Tây Chu, chính quyền trung ương đủ mạnh để duy trì quân đội trung ương và kiểm soát các nước chư hầu. Đến khi Chu U Vương chết và kinh đô nhà Chu bị đánh phá vào năm 771 TCN thì sức mạnh của chính quyền trung ương bị suy giảm và lệ thuộc vào các nước chư hầu xung quanh. Khái niệm Ngũ Bá ra đời vào thời điểm khi mà nhà Đông Chu sau đó bị suy yếu.

Ngũ Bá[sửa | sửa mã nguồn]

Có cả thảy 6 thuyết về Ngũ bá

  • Theo Tự thông:
    • Trịnh Trang Công (鄭莊公, 744 TCN - 701 TCN)
    • Tề Hoàn Công (齐桓公)
    • Tần Mục Công (秦穆公)
    • Tấn Văn Công (晋文公)
    • Sở Trang Vương (楚庄王)
  • Theo sách Bạch hổ thông - hiệu biên:
    • Tề Hoàn Công (齐桓公)
    • Tần Mục Công (秦穆公)
    • Tấn Văn Công (晋文公)
    • Sở Trang Vương (楚庄王)
    • Ngô Vương Hạp Lư (吴王阖闾)
  • Theo Tứ tử giảng đức luận:
    • Tề Hoàn Công (齐桓公)
    • Tần Mục Công (秦穆公)
    • Tấn Văn Công (晋文公)
    • Sở Trang Vương (楚庄王)
    • Việt Vương Câu Tiễn (越王勾踐)
  • Theo Hán thư chú - chư hầu vương biểu:
    • Tề Hoàn Công (齐桓公)
    • Tống Tương Công (宋襄公)
    • Tần Mục Công (秦穆公)
    • Tấn Văn Công (晋文公)
    • Ngô Vương Phù Sai (吴王夫差, 495 TCN - 473 TCN)

Tề Hoàn Công cùng Tấn Văn Công là 2 nhân vật cơ bản thường có trong các danh sách Ngũ bá vì chỉ có 2 vị quân chủ này mới chính thức được thiên tử nhà Chu công nhận và tổ chức nghi lễ thụ phong hoành tráng.

Hoạt động của các vua làm bá chư hầu[sửa | sửa mã nguồn]

Trước khi Ngũ Bá nổi lên, đã có sự lấn át thiên tử của Trịnh Trang Công (743-701 TCN). Tuy nhiên Trịnh Trang công chỉ đóng vai trò khanh sĩ nhà Chu và ra mặt chống đối thiên tử, chưa thực hiện vai trò "anh cả" các chư hầu.

Sau khi Trịnh Trang công mất, nước Trịnh suy yếu vì nội loạn. Hơn 10 năm sau Tề Hoàn Công (685-643 TCN) được sự giúp đỡ của Quản Trọng bắt đầu gây dựng nghiệp bá. Nước Tề ở miền Sơn Đông ngày nay, thời đó đã chiếm được hết bán đảo Sơn Đông, đất đai rất rộng, có núi, có biển, có nhiều tài nguyên. Nước Tề giàu mạnh nhờ chính sách của Quản Trọng.

Để được các nước sợ phục, Tề đóng vai trò người cứu giúp các nước bị xâm lấn và lập lại "công bằng" giữa các chư hầu. Tề Hoàn công đem quân đuổi người Địch ngoại tộc, giúp nước Vệ lập lại được nước; lại giúp Yên Trang công đánh diệt các nước Cô Trúc và nước Nhung xâm lấn. Do đó, nước Tề được chư hầu tin. Nước Sở vì bội lỗi thề, vua Tề họp chư hầu đem quân phạt Sở. Như vậy, vua Tề bất chấp thiên tử mà ra lệnh cho chư hầu.

Ngoài hoạt động quân sự, nước Tề bá chủ còn áp dụng biện pháp chính trị. Nước Tề hiệu triệu các chư hầu trước sau chín lần thề với nhau (minh thệ) cùng "tôn vương" (tức tôn vua Chu) và "nhương di" chống sự xâm lăng của các "ngoại tộc" (các dân tộc ở ngoài).

Sau Tề Hoàn Công, các chư hầu nổi lên làm bá cũng noi theo gương, kết hợp hoạt động quân sự và chính trị để khiến các nước khác nể sợ và suy tôn mình.

Sau khi Hoàn công chết, nước Tề suy yếu vì nội loạn, Tống Tương Công (650-637 TCN) định thay làm minh chủ, hội chư hầu nhưng không thành, sau bị vua Sở Thành Vương (671-626 TCN) lừa bắt. Cuối cùng Tống Tương công đem quân đánh Sở bị bại. Do sự nghiệp của Tống Tương công không nổi trội trong các chư hầu nên có sử gia loại ông ra khỏi hàng ngũ bá.

Sau đó Tấn Văn Công (636-628 TCN) lên thay làm bá. Nhà Chu bị rợ Xích Địch quấy nhiễu, hội chư hầu đánh dẹp rồi rước thiên tử về ngôi; Sở lúc đó bị coi gần như Di Địch vì chưa văn minh, tranh giành với Tấn. Tấn Văn công đánh thắng Sở rồi hội chư hầu mà thề "tôn nhà vua, không được hại lẫn nhau".

Qua đời sau, Tấn và Tần tranh nhau địa vị bá. Tần Mục công (659-621 TCN) dùng Bách Lý Hề làm tướng, đuổi được rợ Tây Nhung, mở rộng thêm đất; xưng bá ở phía Tây, nhưng chưa đủ sức tranh ngôi minh chủ của nước Tấn ở trung nguyên.

Sang đầu thế kỷ 6 TCN, Sở Trang Vương (613-591 TCN) ở phương Nam mạnh nhất, đất rất rộng, diệt được vài ngoại tộc, khai thác thêm đất đai, đánh Tống, phá Tấn, làm bá chủ chư hầu, tự xưng vương, có ý nhòm ngó chín cái đỉnh của nhà Chu.

Cuối thời Xuân Thu, vua nước Ngô là Phù Sai (496-473 TCM) thừa hưởng cơ nghiệp của Hạp Lư, mang quân lên trung nguyên đánh bại nước Tề và hội chư hầu, được các chư hầu suy tôn đứng đầu. Tuy nhiên cơ nghiệp của Phù Sai không vững chắc, ngay sau minh thệ thì Ngô bị nước Việt đánh úp và chỉ 9 năm sau thì bị tiêu diệt.

Vua nước Việt là Câu Tiễn bị Phù Sai đánh thua, phải xin hoà, sau tủi nhục sống mười năm mưu tính chuyện báo thù, được Phạm Lãi giúp, bày mưu dâng nàng Tây Thi cho Phù Sai để Phù Sai mê sắc mà bỏ bê việc nước; rốt cuộc Câu Tiễn diệt được Ngô, thanh thế chấn động khắp nơi (thế kỷ V TCN), thành bá chủ miền Đông Nam.

Các chư hầu làm bá dùng khẩu hiệu "tôn Chu, nhương Di", mà sự thực chỉ là một cớ để khuếch trương thế lực, thôn tính các nước nhỏ, mở mang đất đai, càng ngày càng gây thêm sự mất quân bình giữa lực lượng các nước lớn, nhỏ.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]