Người đẹp và quái thú (phim 1991)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Người đẹp và quái thú

Poster tại các rạp ở Bắc Mỹ của phim Người đẹp và quái thú, do John Alvin thiết kế.[1]
Thông tin phim
Đạo diễn Gary Trousdale
Kirk Wise
Sản xuất Don Hahn
Kịch bản Linda Woolverton
Cốt truyện Roger Allers
Brenda Chapman
Chris Sanders
Burny Mattinson
Kevin Harkey
Brian Pimental
Bruce Woodside
Joe Ranft
Tom Ellery
Kelly Ashbury
Robert Lence
Dựa trên "Người đẹp và quái vật" của
Jeanne-Marie Le Prince de Beaumont
Người dẫn chuyện David Ogden Stiers
Diễn viên Paige O'Hara
Robby Benson
Richard White
Jerry Orbach
David Ogden Stiers
Angela Lansbury
Bradley Pierce
Rex Everhart
Jesse Corti
Âm nhạc Alan Menken
Dựng phim John Carnochan
Hãng sản xuất Walt Disney Pictures
Walt Disney Feature Animation
Phát hành Buena Vista Pictures
Công chiếu Ngày 13 tháng 11 năm 1991 (Ngày phát hành đầu tiên trên thế giới)
Ngày 22 tháng 11 năm 1991 (tại Hoa Kỳ)
Độ dài 84 phút
Quốc gia Hoa Kỳ
Ngôn ngữ Tiếng Anh
Kinh phí 25 triệu USD[2]
Doanh thu 424,967,620 USD[2]

Người đẹp và quái thú là một bộ phim hoạt hình lãng mạn tưởng tượng có yếu tố nhạc kịch của Hoa Kỳ sản xuất năm 1991 bởi Walt Disney Feature Animation và do Walt Disney Pictures phát hành. Dựa trên câu chuyện cổ tích được biết đến nhiều qua ngọn bút của nữ tiểu thuyết gia người Pháp Jeanne-Marie Leprince de Beaumont, Người đẹp và quái thú là bộ phim hoạt hình thứ 30 trong Walt Disney Animated Classics series và là bộ phim thứ ba trong Thời kì Phục hưng của Disney. Với sự tham gia lồng tiếng của Paige O'HaraRobby Benson, cùng với Richard White, Jerry Orbach, David Ogden StiersAngela Lansbury, bộ phim kể câu chuyện về một chàng hoàng tử bị biến thành một con quái thú gớm ghiếc, một sự trừng phạt vì sự độc ác và ích kỷ của chàng, và Belle, một cô gái trẻ xinh đẹp người đã thay cha làm tù nhân trong toà lâu đài của quái thú. Để có thể trở lại thành người, quái thú phải chiếm được tình cảm của Belle, nếu không chàng sẽ phải ở trong hình dạng của quái vật mãi mãi.

Ban đầu phim định do Richard Purdum làm đạo diễn, nhưng sau đó ông đã từ bỏ vì bất đồng quan điểm với quyết định của CEO Disney Jeffrey Katzenberg muốn chuyển thể câu chuyện thành một bộ phim nhạc kịch, nên Người đẹp và quái thú do Gary TrousdaleKirk Wise làm đạo diễn với kịch bản của Linda Woolverton, và cốt truyện bởi Roger Allers. Howard AshmanAlan Menken viết các bài hát cho phim, và Menken là người biên soạn toàn bộ phần nhạc nền. Ashman, người ngoài việc viết lời còn làm giám đốc sản xuất của dự án, đã qua đời vì AIDS tám tháng trước khi phim lần đầu công chiếu; và bộ phim đã được đề tặng tới ông.

Người đẹp và quái thú lần đầu công chiếu ở Liên hoan phim New York vào ngày 29 tháng 9 năm 1991, sau đó được phát hành rộng rãi tại các rạp vào ngày 22 tháng 11 và nhận được những phản hồi vô cùng tích cực. Bộ phim cũng là một thành công lớn về doanh thu phòng vé, đã thu được hơn 424 triệu USD toàn cầu. Người đẹp và quái thú đã nhận được đề cử cho một số giải, giành được Giải Quả cầu vàng cho phim ca nhạc hoặc phim hài hay nhất. Quan trọng nhất, Người đẹp và quái thú đã trở thành bộ phim hoạt hình đầu tiên được đề cử cho Giải Oscar cho phim hay nhất. Bộ phim cũng nhận được thêm năm đề cử giải Oscar nữa, trong đó có Nhạc phim gốc hay nhất, Âm thanh xuất sắc nhất, và ba đề cử riêng biệt cho giải Bài hát gốc hay nhất. Cuối cùng, bộ phim đã giành được các giải Nhạc phim gốc hay nhất, trong khi giải Bài hát gốc hay nhất thuộc về bài hát chủ đề của phim. Vào năm 2002, Người đẹp và quái thú được Library of Congress ghi nhận là một bộ phim "có đóng góp quan trọng về văn hoá, lịch sử và thẩm mĩ " và được chọn để lưu trữ và bảo tồn tại National Film Registry (Cơ quan lưu trữ phim quốc gia).

Vào tháng 4 năm 1994, Người đẹp và quái thú trở thành bộ phim hoạt hình đầu tiên của Disney được chuyển thể thành một vở nhạc kịch Broadway. Thành công của phim khiến Disney đã sản xuất thêm hai phần sau nữa được phát hành trực tiếp dưới dạng băng giải trí tại gia đình (mà không chiếu ở rạp): Beauty and the Beast: The Enchanted Christmas, phát hành năm 1997, và Beauty and the Beast: Belle's Magical World, phát hành năm 1998. Bộ phim cũng được tiếp nối bởi hai series truyền hình phụ nữa là, Sing Me a Story with Belle. Một phiên bản đặc biệt dưới định dạng IMAX của bộ phim gốc đã được công chiếu năm 2002, với thêm một phân cảnh ca hát dài năm phút mới được đưa thêm vào. Sau thành công khi phát hành lại Vua sư tử dưới định dạng 3D, bộ phim này đã quay trở lại các rạp trong định dạng 3D dưới sự giám sát sản xuất của John Lasseter vào ngày 13 tháng 1 năm 2012.[3]

Cốt truyện[sửa | sửa mã nguồn]

Một mụ phù thuỷ cải trang thành một bà cụ ăn xin già tới gặp một chàng hoàng tử ích kỷ và độc ác, mong được đổi một bông hồng lấy một đêm ngủ nhờ trong lâu đài của anh ta. Chàng hoàng tử đã cười nhạo ý định đó và đuổi bà lão đi. Để trừng phạt sự lạnh lùng và ích kỷ của anh ta, mụ phù thuỷ đã biến anh thành một con quái thú gớm ghiếc, và biến những người hầu của anh ta thành các vật dụng trong nhà. Mụ đưa cho anh ta một chiếc gương thần có thể cho anh biết những gì đang xảy ra ở bất cứ nơi đâu, cùng với bông hoa hồng sẽ nở vào lần sinh nhật thứ 21 của hoàng tử. Để phá bỏ lời nguyền, hoàng tử phải học cách yêu thương người khác và phải được một người con gái yêu lại trước khi những cánh hoa hồng rụng hết, nếu không hoàng tử sẽ phải ở trong bộ dạng quái thú mãi mãi.

Một vài năm sau, có một cô gái trẻ đẹp tên là Belle sống ở một ngôi làng gần đó cùng với cha mình, ông Maurice, một nhà phát minh lập dị. Là một người đam mê sách, Belle luôn mong ước được có một cuộc sống mới thoát khỏi ngôi làng buồn tẻ và đơn điệu của nàng. Sắc đẹp và lối sống phóng khoáng không theo lễ nghi của nàng thu hút sự chú ý của mọi người trong thị trấn và có nhiều chàng trai muốn theo đuổi nàng, đặc biệt là Gaston, một gã trai kiêu ngạo luôn quyết tâm cưới nàng. Mặc dù Gaston là mẫu người được rất nhiều cô gái mong đợi và nhiều chàng trai trong thị trấn ngưỡng mộ, Belle không có chút thích thú nào với anh ta.

Trên đường tới hội chợ để giới thiệu chiếc máy chẻ củi của mình cùng với con ngựa Phillipe, Maurice bị lạc trong rừng sâu. Bị một đàn chó sói đuổi, Maurice tình cờ tới lâu đài của Quái thú, nơi ông đã gặp những người hầu trước đây của hoàng tử gồm Lumière, một cây đèn nến, và Cogsworth, một chiếc đồng hồ, Mrs. Potts, một chiếc ấm trà, và con trai của bà, Chip, một tách trà con. Quái thú sau đó đã phát hiện và bắt giữ Maurice. Phillipe dẫn Belle trở lại toà lâu đài này, và nàng đề nghị được thế chỗ cha mình đang bị giam giữ; và Quái thú đã chấp nhận, bất chấp sự phản kháng của Maurice. Trong khi Gaston đang bực bội trong quán rượu vì cầu hôn Belle không thành, Maurice tới nhờ mọi người tới giúp cứu con gái ông khỏi tay Quái thú. Không ai tin lời ông nói là nghiêm túc cả, nên Maurice đã lên đường một mình.

Đêm đó Belle từ chối ăn tối cùng Quái thú, làm nó tức giận điên cuồng; Lumière không nghe lời Quái thú rằng không được cho nàng ăn tối nữa. Trong khi Cogsworth và Lumière đưa Belle đi dạo quanh lâu đài, nàng bước vào Căn phòng Phía Tây cấm kị, và thấy bông hoa hồng kỳ diệu. Quái thú trở về, thấy Belle ở đó vô cùng giận giữ đuổi nàng đi. Belle tìm cách chạy trốn khỏi lâu đài với Phillipe, nhưng họ bị một đàn sói trong rừng tấn công. Quái thú tới giúp nàng và đánh đuổi bọn chó sói đi, nhưng không may trong lúc đó nó đã bị thương. Belle băng bó cho Quái thú, và nó bắt đầu có tình cảm với nàng. Nàng cảm ơn nó đã cứu nàng lúc nguy hiểm và Quái thú đã gây ấn tượng với Belle khi nó cho nàng toàn bộ thư viện khổng lồ của lâu đài. Khi họ dành nhiều thời gian với nhau, họ lại càng đến gần với nhau hơn. Trong lúc đó, tên Gaston độc ác đã đút lót Monsieur d′Arque, quản lý trại tâm thần của thị trấn, để bắt Maurice đi nếu Belle không chịu chấp nhận lời cầu hôn của Gaston.

Belle và Quái thú đã tận hưởng bữa tối lãng mạn, nhảy cùng nhau trong căn phòng khiêu vũ rộng lớn dưới nền nhạc bài hát Người đẹp và quái thú của Bà Ấm trà. Belle nói với Quái thú rằng nàng rất nhớ cha mình, và Quái thú đã để nàng dùng chiếc gương thần để xem cha mình đang ở đâu. Khi thấy cha sắp chết cóng trong khu rừng, cố tìm cách cứu mình, Belle vô cùng buồn bã. Mặc dù vô cùng thất vọng, nhưng vì tình yêu, Quái thú đã cho phép Belle được rời khỏi lâu đài để đi cứu cha, đồng thời đưa nàng chiếc gương để lúc nào Belle cũng có thể nhớ tới mình. Belle tìm thấy cha và đưa ông trở về nhà. Sau đó Gaston tới để thực hiện kế hoạch xấu xa của mình, nhưng Belle đã chứng minh cha mình hoàn toàn tỉnh táo bằng cách đưa cho mọi người xem Quái thú trong chiếc gương thần. Phát hiện ra Belle đã đem lòng yêu Quái thú, Gaston kích động sự giận dữ của đám đông với Quái thú, nói với họ rằng đó là một con quái vật ăn thịt người cần phải bị tiêu diệt, và đưa họ tới lâu đài. Gaston nhốt Belle và Maurice trong hầm nhà họ, nhưng Chip, người đã trốn trong túi đồ của Belle, đã giải thoát cho họ với sự giúp đỡ của chiếc máy chẻ củi của chính Maurice.

Người hầu của Quái thú đã đánh bại đám đông trong khi Gaston đi tìm Quái thú. Ban đầu, Quái thú quá chán nản và thất vọng không buồn đánh lại, nhưng chàng đã lấy lại được ý chí khi thấy Belle quay lại lâu đài. Sau khi chiến thắng trận đấu nảy lửa, Quái thú đã tha mạng cho Gaston và bảo hắn biến đi. Khi Quái thú chuẩn bị đoàn tụ với Belle, thì tên Gaston bất ngờ đâm chàng từ phía sau lưng, nhưng sau đó bị mất thăng bằng, hắn đã ngã xuống vực và chết. Lát sau, Quái thú đã không qua khỏi, và Belle đã thổ lộ tình yêu của mình với chàng ngay khi cánh hồng cuối cùng rụng xuống, và lời nguyền đã bị phá bỏ. Quái thú tỉnh dậy và trở lại thành người, cả tất cả những người hầu của chàng cũng vậy. Belle và hoàng tử nhảy cùng nhau trong phòng khiêu vũ với sự có mặt của cha nàng, và những người hầu vô cùng hạnh phúc đứng vây quanh họ.

Các diễn viên[sửa | sửa mã nguồn]

  • Paige O'Hara trong vai Belle – Một cô gái trẻ xinh đẹp rất yêu đọc sách, ưa phiêu lưu thám hiểm, và sẵn lòng đánh đổi tự do của mình với Quái thú thay cho cha. Trong một nỗ lực để làm nổi bật nhân vật so với truyện cổ tích gốc, các nhà làm phim cảm thấy rằng Belle không nên "ý thức" được sắc đẹp của mình và nên làm cho nàng trở nên "hơi khác người một chút."[4] Wise đề nghị mời lại O'Hara bởi cô "có giọng rất đặc biệt", "một chút gì đó của Judy Garland," sau khi hình mẫu bề ngoài của Belle đã được hoàn thiện.[5] James BaxterMark Henn là các hoạ sĩ giám sát cho nhân vật Belle.
  • Robby Benson trong vai Quái thú – Một chàng hoàng tử đẹp trai bị biến thành một con quái thú gớm ghiếc bởi bàn tay một phù thuỷ xinh đẹp muốn trừng phạt anh ta vì lối cư xử ích kỉ của mình. Chàng có phần đầu và sừng giống của một con bò rừng Mỹ, cánh tay và cơ thể của một con gấu, lông mày của một con gorilla, hàm, răng và bờm của một con sư tử, răng nanh của một con lợn rừng và đôi chân và cái đuôi của một con chó sói. Chris Sanders, một trong những hoạ sĩ phác thảo cốt truyện của phim, đã vẽ một bản thiết kế nháp cho nhân vật Quái thú và cho ra đời một thiết kế dựa trên các loài chim, côn trùng trước khi đến với mẫu vẽ gần giống với thiết kế cuối cùng sau này.[6] Glen Keane, hoạ sĩ giám sát nhân vật Quái thú, đã sửa lại thiết kế này bằng cách đến thăm sở thú và nghiên cứu hình dáng của các loài vật mà họ định lấy làm hình mẫu cho nhân vật Quái thú.[6] Benson bình luận, "Có một cơn giận dữ và sự giày vò day dứt trong nhân vật này mà trước đây tôi chưa từng được yêu cầu thiết kế cái gì như vậy."[7] Các nhà làm phim bình luận rằng "mọi người đều phải khàn khàn mà kêu lên eo ôi kinh quá" trong khi Benson có "giọng nói lớn và một mặt rất ấm áp, dễ gần" và do đó "bạn có thể nghe thấy một chàng hoàng tử ẩn sau bộ lông vũ kia."[6]
  • Richard White trong vai Gaston – Một kẻ đi săn tàn ác cố tìm cách lấy Belle làm vợ và quyết tâm không để ai giành lấy được trái tim nàng. Gaston là một người vô cùng ích kỷ, luôn tự cho mình là nhất và là nhân vật phản diện chính của bộ phim. Các nhà làm phim bình luận rằng họ có đủ "những hàng dài toàn những diễn viên điển trai với chất giọng trầm mà sâu" trong các buổi thử giọng tuyển diễn viên, nhưng Richard White có "giọng nói với âm vực lớn" có thể "rung động cả khán phòng".[6] Hoạ sĩ giám sát của Gaston, Andreas Deja, bị Jeffrey Katzenberg yêu cầu muốn làm cho Gaston trở thành một nhân vật điển trai, đối lập với dáng vẻ truyền thống của một nhân vật phản diện Disney, một nhiệm vụ ban đầu ông thấy là khá khó khăn. Lúc đầu, Gaston chỉ là một chàng trai hay để ý thái quá tới vẻ bề ngoài của bản thâ mình, nhưng sau đó hắn đã dẫn cả làng đi tiêu diệt Quái thú, giận dữ vì cho rằng Belle yêu Quái thú hơn mình.[8]
  • Jerry Orbach trong vai Lumiere – Một người phục vụ tốt bụng nhưng ưa nổi loạn ở lâu đài của Quái thú, bị mụ phù thuỷ biến thành một chiếc chân đèn nến trên bàn ăn. Anh thường không nghe theo những quy định nghiêm ngặt của chủ mình, đôi khi còn gây căng thẳng giữa họ, nhưng Quái thú cũng thường tới gặp Lumiere để tìm lời khuyên khi cần. Anh được khắc hoạ khá giống một chàng trai có thể làm mê hoặc những cô gái, bởi trong phim anh thường xuất hiện bên Babette Cây chổi lau nhà, và ngay lập tức yêu quý Belle. Một trò đùa thường thấy trong suốt chiều dài bộ phim là cảnh Lumiere dùng những cây nến của mình làm cháy Cogsworth. Nik Ranieri là hoạ sĩ giám sát của Lumiere.
  • David Ogden Stiers trong vai Cogsworth – Quản gia trưởng của lâu đài và là bạn thân của Lumiere, người đã bị biến thành một chiếc đồng hồ. Vừa cư xử tốt bụng với Lumiere, anh còn vô cùng trung thành với Quái thú, giúp cho anh và tất cả mọi người tránh khỏi rắc rối, và điều này cũng đồng thời hay gây ra xích mích giữa anh và Lumiere. Will Finn là hoạ sĩ giám sát của Cogsworth. Stiers cũng đồng thời lồng tiếng cho nhân vật người dẫn chuyện ở đầu phim.
  • Angela Lansbury trong vai Mrs. Potts, Bà Ấm trà – Bếp trưởng của lâu đài, bị biến thành một ấm trà nhỏ, đối xử với Belle ân cần như một người mẹ. Các nhà làm phim đã xem xét một số tên gọi cho nhân vật Bà Ấm trà, chẳng hạn như "Mrs. Chamomile," trước khi Ashman đề nghị sử dụng những cái tên đơn giản và ngắn gọn cho các đồ vật trong nhà.[6] David Pruiksma là hoạ sĩ giám sát của nhân vật Mrs. Potts.
  • Bradley Michael Pierce trong vai Chip – Một tách trà và là con trai của Bà Ấm trà. Ban đầu các nhà làm phim định chỉ cho nhân vật này xuất hiện rất ít, nhưng sau đó họ ấn tượng với phần thể hiện của Pierce và quyết định nâng cao vai trò của nhân vật này trong mạch truyện, thay vì biến Chip thành một nhân vật im lặng kiểu một chiếc Hộp Nhạc.[6] Pruiksma cũng là hoạ sĩ giám sát của nhân vật Chip.
  • Rex Everhart trong vai Maurice – Một nhà phát minh kì quặc và là bố của Belle. Người dân thị trấn gọi ông là điên rồ, nhưng Belle hiếu thảo luôn tin rằng một ngày cha mình sẽ nổi tiếng. Ruben A. Aquino là hoạ sĩ giám sát của nhân vật Maurice.
  • Jesse Corti trong vai Lefou – người quân sư vụng về và hay nói xấu sau lưng, nhưng cũng rất trung thành và khá thông minh của Gaston. Chris Wahl là hoạ sĩ giám sát của nhân vật Lefou.
  • Hal Smith trong vai Philippe – Con ngựa của Belle. Russ Edmonds là hoạ sĩ giám sát của nhân vật Philippe.
  • Jo Anne Worley trong vai Chiếc tủ quần áo – Người chịu trách nhiệm về thời trang của lâu đài, và trước đây từng là một ca sĩ opera, đã bị biến thành một chiếc tủ quần áo. Nhân vật chiếc tủ quần áo đã được nhân viên phát triển hình ảnh Sue C. Nichols giới thiệu tới toàn thể các nam diễn viên đóng vai những người hầu, và trong câu chuyện gốc, đây là một nhân vật tên là "Madame Armoire" (Bà Armoire), có vai trò quan trọng với mạch truyện hơn so với trong phim. Trong phiên bản chuyển thể cho sân khấu, nhân vật Chiếc tủ quần áo được biết đến với tên gọi "Madame de la Grande Bouche" (Madame Big Mouth - Quý bà To Mồm), và là nhân vật đồ vật chính duy nhất mà chúng ta không thấy hình người (sau khi toà lâu đài được giải lời nguyền) trong phim. Tony Anselmo là hoạ sĩ giám sát của nhân vật Chiếc tủ quần áo.
  • Mary Kay BergmanKath Soucie trong vai chị em nhà Bimbettes – Ba thiếu nữ ở ngôi làng thường xuyên nịnh bợ Gaston, được biết đến với tên gọi "Những cô gái ngớ ngẩn" trong phiên bản chuyển thể lên sân khấu.
  • Brian Cummings trong vai Chiếc bếp lò – Đầu bếp của lâu đài người đã bị biến thành một chiếc lò nướng.
  • Alvin Epstein trong vai Người chủ hiệu sách – Chủ cửa hàng sách ở thị trấn của Belle, người rất yêu quý cô và đã tặng cho cô một quyển sách ở đầu phim.
  • Tony Jay trong vai Monsieur D'Arque – Tên chủ độc ác của nhà thương điên (Asylum de Loons). Gaston hối lộ hắn để được hắn giúp thực hiện kế hoạch đe doạ Belle.
  • Alec Murphy trong vai Người thợ làm bánh – Chủ cửa hàng bánh mì ở thị trấn của Belle.
  • Kimmy Robertson trong vai Cây chổi lau nhà – Một cô gái và là người yêu của Lumiere, người đã bị biến thành một chiếc chổi quét nhà. Cô được đặt tên là "Babette" trong phiên bản chuyển thể lên sân khấu của phim, và là "Fifi" trong Belle's Magical World.
  • Frank Welker trong vai Chiếc ghế để chân – Con chó của lâu đài bị biến thành một chiếc ghế để chân.

Quá trình sản xuất[sửa | sửa mã nguồn]

Những phiên bản đầu tiên[sửa | sửa mã nguồn]

Walt Disney tiếp tục đi tìm những câu chuyện để chuyển thể thành phim chiếu rạp sau thành công của Nàng Bạch Tuyết và bảy chú lùn, và Người đẹp và quái thú cũng nằm trong số những câu chuyện ông xem xét tới.[4][9] Những nỗ lực nhằm phát triển truyện Người đẹp và quái thú thành một bộ phim đã được thực hiện vào những năm 1930 và 1950, nhưng cuối cùng bị loại bỏ bởi vì đó "thực sự là một thử thách lớn " với nhóm viết kịch bản.[4] Peter M. Nichols nói rằng Disney sau đó có lẽ đã nản lòng sau khi nghe lời Jean Cocteau, người cũng vừa hoàn thành xong phiên bản riêng của ông chuyển thể từ câu chuyện này.[10]

Nhiều thập kỷ sau, sau thành công của phim Who Framed Roger Rabbit vào năm 1988, hãng phim Disney đã phục hồi lại dự án Người đẹp và quái thú cho xưởng phim hoạt hình vệ tinh họ vừa thành lập ở London, Anh để thực hiện phim Roger Rabbit.[11] Richard Williams, người đã đạo diễn phần hoạt hình của Roger Rabbit, đã trực tiếp tiếp cận dự án này, nhưng từ chối bởi ông mong muốn tiếp tục làm việc với dự án đã thai nghén lâu năm của mình The Thief and the Cobbler.[11] Ở vị trí của mình, Williams đề cử đồng nghiệp của mình, đạo diễn hoạt hình người Anh Richard Purdum, và công việc bắt đầu dưới sự điều hành của nhà sản xuất Don Hahn với một phiên bản không có yếu tố nhạc kịch của Người đẹp và quái thú lấy bối cảnh ở Victorian nước Pháp.[11] Theo chỉ thị của CEO của Disney Michael Eisner, Người đẹp và quái thú trở thành bộ phim hoạt hình đầu tiên của Disney sử dụng một người viết kịch bản riêng. Đây là một bước chuyển khác biệt trong quá trình sản xuất một sản phẩm phim hoạt hình, trước đây vốn được phát triển trên các storyboard (một loạt các bức hình vẽ phác thể hiện sơ lược cốt truyện và bố cục chính của phim) truyền thống thay vì dưới dạng văn bản.[12] Linda Woolverton viết bản nháp đầu tiên của câu chuyện trước khi quá trình vẽ các storyboard bắt đầu, và làm việc với nhóm kịch bản để bố trí lại và phát triển bộ phim.[12]

Viết lại kịch bản và nhạc kịch hoá bộ phim[sửa | sửa mã nguồn]

Khi nhìn thấy cuộn các bức vẽ phác thảo kịch bản vào năm 1989, giám đốc của Walt Disney Studios Jeffrey Katzenberg yêu cầu bộ phim phải được xới tung lên và bắt đầu lại từ đống hỗn tạp đó.[11] Vài tháng sau khi mọi việc được triển khai lại từ đầu, Purdum xin thôi vai trò đạo diễn. Xưởng phim tiếp cận với Ron ClementsJohn Musker để mời họ đạo diễn bộ phim nhưng họ đã từ chối lời đề nghị này và nói rằng họ đã "mệt mỏi" sau khi vừa hoàn thành công việc đạo diễn một sản phẩm thành công gần đây của Disney Nàng tiên cá. Disney sau đó đã thuê hai đạo diễn lần đầu tiên thực hiện một phim chiếu rạp Kirk WiseGary Trousdale. Wise và Trousdale trước đây đã đạo diễn một số tập phim hoạt hình Cranium Command, một phim ngắn cho công viên giải trí EPCOT của Disney.[11] Cùng với đó, Katzenberg mời các nhà soạn nhạc Howard AshmanAlan Menken, người đã sáng tác phần nhạc cho phim "Nàng tiên cá" để chuyển Người đẹp và quái vật thành một phim nhạc kịch theo phong cách Broadway với cảm hứng giống với Nàng tiên cá. Ashman, người vào thời điểm đó đã biết rằng mình đang phải chống chọi với những biến chứng của AIDS, đang hợp tác với Disney trên một dự án yêu thích của ông, Aladdin, và chỉ đồng ý tham gia một cách miễn cưỡng vào nhóm sản xuất đầy thử thách của bộ phim này.[11]

Để phù hợp với tình trạng sức khoẻ đang xấu đi của Ashman, phần sản xuất tiền kỳ của Người đẹp và quái thú đã được chuyển từ London về Residence InnFishkill, New York, gần với nhà của Ashman ở thành phố New York.[11] Tại đây, Ashman và Menken tham gia cùng với Wise, Trousdale, Hahn, và Woolverton tái cấu trúc lại kịch bản phim.[4][12] Bởi câu chuyện gốc chỉ gồm có hai nhân vật chính, các nhà làm phim đã cải tiến nó, thêm các nhân vật mới dưới dạng những đồ vật trong nhà kỳ diệu, những người có thể "thêm hơi ấm và hài hước cho một câu chuyện buồn" và dẫn khán giả đi suốt bộ phim, cùng với đó thêm một "nhân vật phản diện thực sự" - Gaston.[4] Những ý tưởng này có một chút gì đó giống những yếu tố trong phiên bản phim "Người đẹp và quái thú" năm 1946 của Pháp, đã giới thiệu nhân vật Avenant, một kẻ cầu hôn ngu ngốc có gì đó giống như Gaston[13] cùng với những đồ vật vô tri vô giác có thể nói chuyện như người thật ở lâu đài của Quái thú.[14] Tuy nhiên, những đồ vật hoạt hình này lại có những tính cách riêng biệt, rõ ràng trong phiên bản của Disney. Tới đầu năm 1990, Katzenberg đã chấp thuận kịch bản sửa đổi, và quá trình vẽ phác kịch bản bắt đầu trở lại.[4][12] Quá trình sản xuất này buộc các hoạ sĩ cốt truyện phải bay đi bay về giữa California và New York để Ashman duyệt các bản vẽ phác cốt truyện, mặc dù chình nhóm sản xuất cũng không được cho biết tại sao phải làm như vậy.[4]

Tuyển chọn diễn viên và thu âm[sửa | sửa mã nguồn]

Các nhà làm phim ban đầu cân nhắc tuyển lại nữ diễn viên đóng vai "Nàng tiên cá" Jodi Benson trong vai Belle.[15] Nhưng cuối cùng họ quyết định nữ diễn viên và ca sĩ Broadway Paige O'Hara bởi họ thích có một nữ nhân vật chính "nghe giống một người phụ nữ hơn là một cô thiếu nữ".[16] Theo như đồng đạo diễn Kirk Wise, O'Hara được giao vai diễn này bởi "cô ấy có một chất giọng khác lạ, một chất giọng cô ấy sẽ sử dụng và có thể làm cô trở thành một người đặc biệt",[17] gợi nhớ tới giọng hát của nữ diễn viên và ca sĩ người Mỹ Judy Garland.[18] O'Hara, sau khi biết tới bộ phim qua báo The New York Times,[19] đã cạnh tranh vai diễn này với 500 ứng viên tràn đầy hy vọng,[20] và tin rằng việc nhà viết lời bài hát Howard Ashman ngưỡng mộ và cảm phục bản thu thử của cô cho vở nhạc kịch Showboat đã đóng một vai trò quan trọng dẫn tới việc cô được tuyển cho vai này.[21]

Hoạt hình[sửa | sửa mã nguồn]

Một khung hình từ phân cảnh Belle và Quái thú nhảy trong phòng khiêu vũ của phim "Người đẹp và quái thú". Phần nền của phân cảnh này được vẽ bằng công nghệ mô phỏng hình ảnh bằng máy tính (computer generated imagery) mang lại hiệu ứng của một máy quay di chuyển trên đường ray xung quanh nhân vật, trong khi đó các nhân vật hoạt hình được ghép vào với khung nền này bằng hệ thống CAPS của Disney.

Quá trình sản xuất của "Người đẹp và quái thú" phải được hoàn thành trong một khoảng thời gian hạn hẹp là hai năm thay vì bốn bởi một lượng lớn thời gian sản xuất đã bị thất thoát vào việc phát triển phiên bản phim trước đó của Purdum.[6] Phần lớn khối lượng công việc sản xuất được hoàn thành ở xưởng phim Feature Animation chính, toạ lạc tại toà nhà Air Way ở Glendale, California. Một nhóm nhỏ hơn ở công viên giải trí Disney-MGM Studios tại Hồ Buena Vista, Florida hỗ trợ nhóm ở California trong một số phân cảnh, đặc biệt là đoạn bài hát "Be Our Guest".[4]

Người đẹp và quái thú là bộ phim thứ hai, tiếp sau phim The Rescuers Down Under, được sản xuất sử dụng hệ thống CAPS (Computer Animation Production System - Hệ thống sản xuất phim hoạt hình trên máy tính), một hệ thống quét hình (scanning), mực, màu và phối ghép kỹ thuật số gồm các phần cứng và phần mềm được phát triển riêng cho Disney bởi Pixar.[4][11] Phần mềm này cho phép sử dụng một số lượng màu lớn hơn, cũng như tô bóng mềm và hiệu ứng nét vẽ màu cho các nhân vật, một kỹ thuật đã biến mất khi xưởng phim Disney từ bỏ việc tô màu bằng tay để chuyển sang sử dụng phương pháp in chụp tĩnh điện (in chụp khô - xerography) vào cuối thập niên 1950.[6] CAPS cũng đồng thời cho phép đội sản xuất mô phỏng hiệu ứng đa máy quay (multiplane) cũ: đặt các nhân vật và/hoặc cảnh nền trên các lớp (layer) riêng biệt và di chuyển chúng gần vào hoặc xa ra khỏi máy quay trên trục Z để mang tới cảm nhận về chiều sâu, cũng như thay đổi tiêu điểm và trọng tâm của mỗi lớp đó.

Thêm nữa, CAPS cho phép một sự kết hợp dễ dàng hơn giữa nghệ thuật vẽ tay truyền thống với công nghệ mô phỏng hình ảnh bằng máy tính (CGI), vốn trước đây phải vẽ lên các khung giấy trong suốt và tô màu theo cách truyền thống.[4][22] Kỹ thuật này được đưa vào sử dụng rất nhiều trong suốt phân cảnh khiêu vũ của "Người đẹp và quái thú", trong đó Belle và Quái thú nhảy cùng nhau trong căn phòng khiêu vũ được mô phỏng bằng máy tính trong khi các máy quay đặt trên đường ray (camera dolly) di chuyển quanh họ trong một không gian ba chiều mô phỏng.[4][6] Các nhà làm phim ban đầu đã quyết định phản đối việc sử dụng máy tính mà họ ưa thích công nghệ hoạt hình truyền thống hơn, nhưng sau đó, khi công nghệ đã được cải tiến, họ cho rằng công nghệ này có thể sử dụng cho một cảnh quay trong phòng khiêu vũ.[10] Thành công của phân cảnh trong phòng khieu vũ đã thuyết phục các giám đốc của hãng phim đầu tư thêm vào hoạt hình máy tính.[23]

Nhạc phim[sửa | sửa mã nguồn]

Ashman và Menken viết nhạc cho bài hát Beauty trong giai đoạn sản xuất tiền kỳ ở Fishkill, bài hát mở đầu theo phong cách operetta "Belle" là tác phẩm đầu tiên của họ cho bộ phim này.[4] Các bài hát khác bao gồm "Be Our Guest," được những đồ vật trong lâu đài hát (bằng phiên bản gốc của ca khúc) cho Maurice nghe khi ông trở thành vị khách đầu tiên tới ăn tại lâu đài trong suốt một thập kỷ, "Gaston," một màn đơn ca cho nhân vật phản diện kiêu ngạo của phim, "Human Again," một bài hát miêu tả tình yêu đang lớn dần giữa Belle và Quái thú qua góc nhìn của các đồ vật, bản ballad tình yêu "Beauty and the Beast," và bài hát ở đỉnh cao của phim, "The Mob Song."

Khi giai đoạn phát triển cốt truyện và các ca khúc kết thúc, thời kỳ sản xuất toàn diện bắt đầu ở Burbank trong khi phần lồng tiếng và thu âm bài hát bắt đầu ở thành phố New York.[4] Các bài hát Beauty (Người đẹp) phần lớn được thu âm trực tiếp với dàn nhạc và các diễn viên lồng tiếng làm việc đồng thời thay vì thu âm phần nhạc nền và lời bài hát (overdubbing) riêng biệt, nhằm mang tới cho các bài hát một "sức mạnh" giống như một album thử giọng mà các nhà làm phim và các nhà soạn nhạc mong muốn.[6]

Trong quá trình sản xuất, đã có khá nhiều thay đổi với cấu trúc của phim, đòi hỏi phải có sự thay thế và thay đổi mục đích sử dụng của các bài hát. Sau khi chiếu một phiên bản hoạt hình gần hoàn chỉnh của phân cảnh "Be Our Guest", đạo diễn cốt truyện Bruce Woodside gợi ý rằng các đồ vật nên hát bài hát này với Belle hơn là với bố cô.[4] Wise và Trousdale đồng ý, và phân cảnh cùng với bài hát đã được sửa chữa lại để thay thế Maurice bằng Belle.[4]

"Human Again" bị loại bỏ khỏi bộ phim trước khi giai đoạn thực hiện phần hoạt hình bắt đầu, do phần lời không phù hợp với cốt truyện về dòng thời gian khi câu chuyện diễn ra.[4] Điều này đòi hỏi Ashman và Menken phải viết một bài hát mới để thế chỗ. "Something There," ở đó Belle và Quái thú cùng hát (chỉ là voiceover - một thuật ngữ ám chỉ việc thu âm bài hát ở ngoài rồi ghép vào chứ không phải trong phim các nhân vật thực sự hát với nhau ở phân cảnh đó. Trong trường hợp này, bài hát "Something There" được phát trong nền trong khi Belle và Quái thú vẫn chơi đùa thoải mái cùng nhau trong phân cảnh chứ không phải là lúc đó họ đang hát) về tình yêu dành cho nhau đang nảy nở, được viết khá muộn trong khi đang sản xuất và được đưa vào kịch bản thế chỗ cho "Human Again."[6] Menken sau đó đã sửa chữa lại "Human Again" để đưa vào phiên bản nhạc kịch sân khấu Broadway năm 1994 của Người đẹp và quái thú, và một phiên bản đã sửa chữa lại khác của bài hát này được thêm vào chính bộ phim gốc trong một phân cảnh mới được dựng riêng cho lần phát hành lại Phiên bản đặc biệt của phim vào năm 2002.[4][6]

Ashman qua đời do các biến chứng của AIDS vào ngày 14 tháng 3 năm 1991, tám tháng trước khi bộ phim được phát hành. Ông chưa bao giờ được xem bộ phim do chính mình thực hiện, và công việc của ông với dự án Aladdin được hoàn tất bởi một người viết lời bài hát khác, Tim Rice. Trước khi Ashman qua đời, các thành viên trong nhóm sản xuất phim đã tới thăm ông sau lần chiếu đầu tiên được đánh giá rất cao của phim, và Don Hahn đã bình luận rằng "bộ phim sẽ là một thành công lớn đây. Ai là người đã nghĩ tới điều đó?", và Ashman trả lời rằng "Đó là tôi."[11] Một lời đề tặng tới nhà viết lời bài hát đã được thêm vào cuối phần chạy chữ cuối phim: "Gửi tới người bạn của chúng tôi, Howard, người đã cho nàng tiên cá giọng hát, và cho Quái thú một tâm hồn. Chúng tôi sẽ mãi ghi nhớ và biết ơn. Howard Ashman: 1950–1991."

Một phiên bản pop của bài hát chủ đề, "Beauty and the Beast", do Céline DionPeabo Bryson thể hiện ở phần chạy chữ cuối phim, được phát hành dưới dạng một đĩa đơn (single) thương mại từ album nhạc phim, cùng với một đoạn phim âm nhạc. Phiên bản của "Beauty and the Beast" của Dion/Bryson đã trở thành một bản hit nhạc pop toàn cầu, chạm tới một trong số 10 bài hát đứng đầu các bảng xếp hạng đĩa đơn ở Hoa Kỳ và Anh [24][25] Sau đó các phiên bản phim Beauty and the Beast phát hành cho mục đích giải trí gia đình đã thêm các phim âm nhạc, dưới dạng các tính năng bổ sung, của các bản hát lại bởi Jump 5 (cho lần phát hành năm 2002 dưới dạng đĩa DVD) và Jordin Sparks (cho lần phát hành năm 2010 dưới dạng đĩa Blu-ray/DVD).

Các bài hát trong phim[sửa | sửa mã nguồn]

  1. "Belle" – Belle, Gaston, và những người dân trong thị trấn
  2. "Belle (Reprise – Phiên bản mở rộng)" – Belle
  3. "Gaston" – Gaston, LeFou, và những người dân trong thị trấn
  4. "Gaston (Phiên bản mở rộng)" – Gaston và LeFou
  5. "Be Our Guest" – Lumière, Bà Ấm trà, và những đồ vật kỳ diệu
  6. "Something There" – Belle, Quái thú, Lumière, Cogsworth, và Bà Ấm trà
  7. "Human Again" (đượpc thêm vào phiên bản đặc biệt năm 2002) – Lumière, Cogsworth, Bà Ấm trà, Chiếc tủ quần áo, Chip, và những đồ vật kỳ diệu
  8. "Beauty and The Beast" – Mrs. Potts (Bà Ấm trà)
  9. "The Mob Song" – Gaston, LeFou, và những người dân trong thị trấn
  10. "Transformation (Beauty and the Beast – Phiên bản mở rộng)" – Đoạn điệp khúc

Phát hành và các lần phát hành lại[sửa | sửa mã nguồn]

Khi bản thử nghiệm đầu tiên được hoàn thành cho công ty The Walt Disney Company, một phiên bản chưa hoàn chỉnh của Người đẹp và quái thú được chiếu tại Liên hoan phim New York (New York Film Festival) vào ngày 29 tháng 9 năm 1991.[26] Bộ phim được gán nhãn một sản phẩm đang thực hiện bởi vì về cơ bản mới chỉ có 70% phần hoạt hình được hoàn tất; các bản vẽ phác thảo cốt truyện (storyboard) và các bản vẽ thử nghiệm bằng bút chì được sử dụng thay cho 30% hình ảnh còn lại chưa hoàn thành.[27] Thêm nữa, một số phân đoạn cụ thể của bộ phim tuy đã được hoàn thành nhưng cũng không được đưa vào chiếu ngay mà họ sử dụng sản phẩm của một công đoạn sản xuất trước đó để đưa vào phiên bản này. Khi phim được chiếu xong, Người đẹp và quái vật đã nhận được những tràng pháo tay không ngớt từ những khán giả có mặt tại liên hoan phim lúc bấy giờ và mọi người đứng dậy tung hô nồng nhiệt tới 10 phút.[11][28] Bộ phim hoàn chỉnh cũng đã được chiếu tại Liên hoan phim Cannes năm 1992 (1992 Cannes Film Festival).[29] Phiên bản phim cuối cùng lần đầu tiên ra mắt tại rạp El Capitan Theatre ở Hollywood vào ngày 13 tháng 11 năm 1991, và được phát hành rộng rãi thông qua Walt Disney Pictures vào ngày 22 tháng 11.

Disney ban đầu lên kế hoạch sẽ phát hành lại bộ phim tại các rạp vào tháng 12 năm 1998 trong một nỗ lực nhằm thu hút khán giả đang đổ về phim Hoàng tử Ai Cập của DreamWorks. Ý tưởng khôi phục lại phân cảnh bài hát "Human Again" ban đầu định để cho lần phát hành này. Tuy nhiên do đang đối mặt với sự cạnh tranh trực tiếp từ phim "Hoàng tử Ai Cập" đã nhắc tới ở trên cùng với các phim The Rugrats Movie, Babe: Pig in the CityJack Frost cũng như bản thân lịch phát hành phim dịp nghỉ lễ của chính Disney cũng đang khá kín với các phim Enemy of the State, A Bug's LifeMighty Joe Young, nên lần phát hành lại này được lùi lại sang mùa xuân năm 1999. Khi Disney quyết định đưa phim Doug's 1st Movie từ phát hành trực tiếp dưới dạng băng giải trí tại gia đình sang phát hành tại các rạp, phim này đã chiếm mất lịch dự kiến phát hành của "Người đẹp và quái thú", đẩy nó xuống mùa nghỉ lễ cuối năm. Có lẽ là do đang phải cạnh tranh, cũng như năm trước, và nỗ lực của chính Disney muốn quảng cáo cho phim Toy Story 2, ngày phát hành lần này cũng đã bị huỷ bỏ.

Vào năm 2002, Người đẹp và quái thú được đưa vào bảo quản tại "Cơ quan lưu trữ phim quốc gia" (National Film Registry) của Hoa Kỳ vì được đánh giá là "có tầm quan trọng lớn lao về văn hoá, lịch sử, hoặc thẩm mỹ." Bộ phim đã được bảo quản và phục hồi để phục vụ cho lần ra mắt lại vào đúng ngày đầu tiên của năm mới, năm 2002 tại các rạp chiếu phim định dạng IMAX với một phiên bản biên tập đặc biệt bao gồm cả một phân cảnh nhạc kịch mới. Với phiên bản này, khá nhiều đoạn hoạt hình đã được sửa sang và hoàn thiện, một phân cảnh hoàn toàn mới của bài hát trước đây đã bị loại bỏ "Human Again" đã được thêm vào lần ra mắt thứ hai này của phim, và một phiên bản kỹ thuật số mới từ các file sản xuất gốc của hệ thống CAPS đã được sử dụng để tạo ra một bản phim âm bản độ phân giải cao IMAX.

Một phiên bản dựa theo bộ phim gốc, do Jordin Sparks tổ chức thực hiện, đã được phát hành ở một số rạp có chọn lọc vào ngày 29 tháng 9 và 2 tháng 10 năm 2010. Trước khi phim được chiếu, Sparks đã phát hành một đoạn phim hậu trường độc quyền cho người xem một cái nhìn về quá trình phục hồi mới ở độ phân giải cao với một bộ phim hoạt hình cổ điển và quá trình sản xuất đoạn phim âm nhạc Beauty and the Beast hoàn toàn mới của cô. Trong đó cũng có phần bình luận của nhà sản xuất Don Hahn, phần phỏng vấn với các diễn viên và một cái nhìn sâu bên trong việc phần hoạt hình được sản xuất như thế nào.[30][31]

Một phiên bản của phim dưới định dạng Disney Digital 3D, phiên bản 3D thứ hai cho một bộ phim được sản xuất theo công nghệ hoạt hình truyền thống, ban đầu được lên lịch ra mắt tại các rạp chiếu phim của Mỹ vào ngày 12 tháng 2 năm 2010, nhưng dự án sau đó đã bị tạm ngừng.[32] Vào ngày 25 tháng 8 năm 2011, Disney thông báo rằng phiên bản 3D của phim sẽ được công chiếu lần đầu tiên tại Mỹ ở rạp El Capitan Theatre tại Hollywood từ ngày 2 đến 15 tháng 9 năm 2011.[33] Disney chi chưa đến 10 triệu USD để chuyển đổi sang phiên bản 3D này.[34] Sau thành công của lần ra mắt dưới định dạng 3D của phim Vua sư tử, Disney thông báo sẽ phát hành lại "Người đẹp và quái thú" dưới định dạng 3D rộng rãi trên toàn Bắc Mỹ bắt đầu từ ngày 13 tháng 1 năm 2012.[35] Ở lần ra mắt này, trước khi chiếu phim "Người đẹp và quái thú", Disney có đính kèm một phim hoạt hình ngắn dài 6 phút với tên gọi Tangled Ever After, phần tiếp theo của bộ phim Tangled đình đám năm 2010. Disney cũng đang lên kế hoạch sản xuất một phiên bản khác của Người đẹp và quái thú với tên gọi The Beast (Quái thú).[36]

Phát hành phiên bản giải trí tại gia đình[sửa | sửa mã nguồn]

Bìa đĩa Blu-ray của phiên bản Kim Cương (Diamond Edition)

Bộ phim được phát hành sang VHS và đĩa laser Laserdisc vào ngày 30 tháng 10 năm 1992 và ở Anh vào mùa thu năm 1993 trong một khoảng thời gian hạn chế dưới dạng một phần của series Walt Disney Classics, và sau đó đã bị ngừng lại. Phiên bản này có một sự thay đổi nhỏ so với phim gốc: những hình đầu lâu xuất hiện trong con ngươi mắt Gaston trong hai khung hình lúc hắn bị rơi tới chết đã bị loại bỏ khỏi phiên bản giải trí tại nhà đầu tiên.[6] Không có sự sửa đổi nào tương tự như thế được thực hiện trong những lần phát hành lại sau này. Lần này, phiên bản dán nhãn "đang trong quá trình sản xuất" được chiếu tại Liên hoan phim New York (New York Film Festival) cũng đã được phát hành dưới dạng VHS và đĩa la-de.

Beauty and the Beast: Phiên bản đặc biệt, giống như tên gọi của phiên bản đã được phục hồi của bộ phim được công chiếu dưới định dạng IMAX/màn hình lớn, được phát hành trên một bộ đĩa DVD và VHS "phiên bản Bạch Kim" gồm 2 đĩa vào ngày 8 tháng 10 năm 2002. Bộ DVD này gồm có ba phiên bản khác nhau của bộ phim: phiên bản đặc biệt ở định dạng IMAX được mở rộng, có thêm phân cảnh "Human Again" mới, bản phim chiếu rạp gốc, và bản phim "đang trong quá trình thực hiện" tại Liên hoan phim New York (New York Film Festival). Lần phát hành này bị ngừng lại và đưa vào "Két an toàn của Disney" vào tháng 1 năm 2003, cùng với hai phần tiếp theo của một phim được phát hành trực tiếp dưới dạng băng giải trí tại nhà, Beauty and the Beast: The Enchanted ChristmasBelle's Magical World.

Bộ phim lại được phát hành trở lại từ Két an toàn của Disney vào ngày 5 tháng 10 năm 2010 dưới dạng bộ phim thứ hai trong loạt Phiên bản Bạch Kim của Disney, với bộ đĩa tổng hợp gồm 3 đĩa Blu-rayDVD;[37] thể hiện lại lần phát hành đầu tiên của Người đẹp và quái thú trên băng giải trí tại nhà ở độ phân giải cao.[38] Phiên bản này bao gồm bốn bản khác nhau của bộ phim: bản gốc phát hành tại các rạp, một phiên bản mở rộng, phiên bản chỉ có storyboard tại Liên hoan phim New York, và một phiên bản thứ tư lặp lại, thể hiện các bức vẽ storyboard theo phương pháp "hình trong hình" cùng với phiên bản gốc phát hành tại các rạp.[39][40] Một phiên bản gồm 2 đĩa DVD đã được phát hành vào ngày 23 tháng 11 năm 2010.[37] Một bộ đĩa tổng hợp gồm 5 đĩa, trong đó có đĩa Blu-ray 3D, Blu-ray 2D, DVD và một Bản sao kỹ thuật số (Digital copy), được phát hành vào ngày 4 tháng 10 năm 2011. Bộ đĩa 3D tổng hợp khá giống với phiên bản Kim cương gốc, ngoại trừ việc có thêm đĩa 3D và bản sao kỹ thuật số. Bản phát hành Blu-ray được chuyển tới Két an toàn của Disney cùng với hai phần sau vào ngày 30 tháng 4 năm 2012.

Phản hồi và đánh giá[sửa | sửa mã nguồn]

Khi bản phim hoàn chỉnh được phát hành tại các rạp, bộ phim đã nhận được những phản hồi vô cùng tích cực ngập tràn hơn sức tưởng tượng từ các nhà phê bình. Roger Ebert của báo Chicago Sun-Times cho bộ phim cả bốn sao trên tổng số 4 và nói rằng "Người đẹp và quái thú đã quay trở về với một truyền thống xưa hơn nhưng sung sức hơn của Hollywood, ở đó những nhà viết kịch bản, các nhạc sĩ và những nhà làm phim giỏi nhất tập hợp lại trong một dự án với niềm tin rằng những khán giả gia đình đáng được nhận một tác phẩm giải trí xuất sắc và ấn tượng." Ông xếp bộ phim đứng thứ ba trong số những phim xuất sắc nhất năm 1991. James Berardinelli cho bộ phim 4/4 sao vào nói, "Là một câu chuyện tình lãng mạn, Người đẹp và quái thú là một viên kẹo ngọt ngào, mang tới một cặp nhân vật ba chiều đáng nhớ và cho chúng ta lý do để chúc mừng khi họ kết đôi với nhau." Berardinelli gọi bộ phim là phim hoạt hình hay nhất mọi thời đại và xếp phim ở vị trí thứ 56 trong danh sách 100 phim hay nhất của ông, trên cả những bộ phim nổi tiếng như The Wizard of Oz (số 71), To Kill a Mockingbird (số 80), và Lawrence of Arabia (số 94). Trong số những phản hồi ấy có những nhận xét tốt đẹp nhất mà xưởng phim nhận được kể từ những năm 1940.[11] Bộ phim nhận được 92% số phiếu đánh giá tích cực từ trang tổng hợp nhận xét phim Rotten Tomatoes dựa trên tổng số 92 ý kiến.[41] Việc sử dụng công nghệ hoạt hình máy tính, đặc biệt là ở phân cảnh trong phòng khiêu vũ của "Người đẹp và quái thú", được chọn là một trong những điểm nhấn của phim ở một vài ý kiến nhận xét.[6]

Smoodin viết trong cuốn sách của mình, Animating Culture (Văn hoá hoạt hình) rằng hãng phim đang cố tìm cách bù đắp cho những chuẩn mực về giới của mọi người trước đây bằng bộ phim này.[42] Smoodin cũng nói rằng, về việc bộ phim được cho là đã mang những câu chuyện cổ tích truyền thống và thuyết nam nữ bình đẳng vào làm một, cũng như đưa công nghệ hoạt hình truyền thống vào cùng với hoạt hình máy tính, "sự xuất sắc của phim có thể được thể hiện trong lĩnh vực công nghệ và thậm chí cả trong chính trị ".[43] Một tác giả khác viết rằng Belle "có vẻ như đã trở thành một trong số ít người có hiểu biết khi đã thực sự đọc sách, hơn là chỉ đơn giản dành nhiều thời gian với chúng ", nhưng cũng nói rằng phim đã tới gần hơn bất kỳ bộ phim Disney nào khác trong việc "chấp nhận những thử thách vào loại lớn nhất mà các sản phẩm điện ảnh của Walt Disney features đã từng gặp".[44] David Whitley viết trong cuốn The Idea of Nature in Disney Animation (Ý tưởng về thiên nhiên trong các bộ phim hoạt hình Disney) rằng Belle khác với những nữ nhân vật chính trước đây của Disney ở một điểm rằng nàng hầu như hoàn toàn tự do khỏi gánh nặng việc nhà, mặc dù nhân vật của nàng có chút gì đó không rõ ràng giống như kiểu "văn hoá hiện đại ngày nay yêu cầu phần lớn các cô gái trẻ phải đóng góp một chút với công việc gia đình trước khi họ rời khỏi nhà và đảm nhận những trách nhiệm lớn lao của một người mẹ ".[45] Whitley cũng ghi chú về một số chủ đề khác và những ảnh hưởng mang tính hiện đại, thí dụ như quan điểm phê phán việc Gaston tự cho mình là nhất và thái độ với thiên nhiên, những người hầu kiểu vừa là người vừa là đồ vật, và người bố trong vai một nhà phát minh chứ không chỉ là một người buôn bán.[45]

Betsy Hearne, biên tập viên của tạp chí The Bulletin of the Center for Children's Books, viết rằng bộ phim đã giảm bớt quan niệm đạo đức của câu chuyện gốc về "vẻ đẹp bên trong" hay vẻ đẹp thầm kín, cũng như bản thân nữ nhân vật chính, mà tập trung vào những cuộc giao tranh ác liệt hơn; "Trên thực tế", cô viết, "không phải do Người đẹp thiếu tình yêu mà suýt giết chết Quái thú của Disney, mà thật ra là mũi dao của kẻ thù."[46]

Stefan Kanfer viết trong cuốn sách của ông Serious Business rằng trong bộ phim này "truyền thống của một nhà hát nhạc kịch đã hoàn toàn được thống nhất lựa chọn ", thí dụ như trong việc tuyển hai diễn viên Broadway là Angela Lansbury và Jerry Orbach.[47]

IGN xếp Người đẹp và quái thú là bộ phim hoạt hình hay nhất mọi thời đại, trực tiếp đứng trên các phim như WALL-E, The Incredibles, Toy Story 2, và The Iron Giant.[48]

Doanh thu phòng vé[sửa | sửa mã nguồn]

Trong lần ra mắt đầu tiên năm 1991, bộ phim đã đạt được thành công quan trọng trong doanh thu phòng vé, với 145,863,363 USD lợi nhuận chỉ tính riêng ở Bắc Mỹ.[2] Bộ phim được xếp thứ ba trong số những phim thành công nhất của năm 1991 tại Bắc Mỹ, chỉ bị hai bom tấn mùa hè vượt qua là Terminator 2: Judgment DayRobin Hood: Prince of Thieves.[49] Vào thời điểm đó Người đẹp và quái thú là tác phẩm phim hoạt hình thành công nhất của Disney được phát hành, và là bộ phim hoạt hình đầu tiên vượt qua mốc doanh thu 100 triệu USD tại Bắc Mỹ.[50][51] Trong lần phát hành lại dưới định dạng IMAX, bộ phim thu về 25,487,190 USD ở Bắc Mỹ và 5,546,156 USD ở các vùng lãnh thổ khác, với tổng lợi nhuận toàn cầu đạt 31,033,346 USD.[52] Phim cũng thu về 9,818,365 USD trong lần phát hành lại dưới định dạng 3D ở nước ngoài.[2] Trong dịp cuối tuần mở đầu của lần phát hành lại dưới định dạng 3D tại Bắc Mỹ vào năm 2012, Người đẹp và quái thú mang về 17.8 triệu USD, đứng ở vị trí thứ 2 sau Contraband, và cũng là bộ phim hoạt hình có doanh thu dịp cuối tuần đầu tiên vào tháng 1 cao nhất.[53][54] Bộ phim được dự đoán sẽ thu về 17.5 triệu USD trong dịp cuối tuần này, tuy nhiên, kết quả đã vượt qua dự đoán và mong đợi của các nhà phân tích doanh thu.[55][56] Lần phát hành lại này kết thúc vào ngày 3 tháng 5 năm 2012 và thu về 47,617,067 USD, đã đưa tổng doanh thu của phim ở khu vực Bắc Mỹ lên 218,967,620 USD.[57] Bộ phim cũng đã mang về ước tính 206,000,000 USD ở các nước khác, với tổng doanh thu toàn cầu đạt 424,967,620 USD.[2]

Hàng hoá và các sản phẩm phụ[sửa | sửa mã nguồn]

Các sản phẩm và hàng hoá sản xuất theo phim Người đẹp và quái thú trải dài trên nhiều thể loại, trong đó có những cuốn sách truyện dựa theo nội dung của phim, truyện tranh dựa trên phim do Disney Comics xuất bản, đồ chơi, quần áo trẻ em, và nhiều thứ khác. Thêm vào đó, nhân vật Belle đã được đưa vào thương hiệu "Những nàng công chúa Disney" của bộ phận sản phẩm tiêu dùng thuộc Disney, và xuất hiện trên các sản phẩm có liên quan tới thương hiệu này.

Vào năm 1995, một series người đóng dành cho trẻ em với tên gọi Sing Me a Story with Belle bắt đầu được phát sóng, và tiếp tục cho tới năm 1999. Hai phần midquel được phát hành dưới dạng băng giải trí tại gia đình (midquel là một thuật ngữ chỉ những bộ phim được sản xuất sau nhưng lấy bối cảnh ở một khoảng thời gian nào đó nằm giữa bộ phim gốc ban đầu) do Walt Disney Television Animation sản xuất: Beauty and the Beast: The Enchanted Christmas vào năm 1997 và Belle's Magical World vào năm 1998.

Disney On Ice sản xuất một phiên bản biểu diễn trên băng của bộ phim, bắt đầu được công chiếu vào năm 1992 tại Lakeland, Florida. Màn biểu diễn này là một thành công vang dội cả về doanh thu và chuyên môn, lưu diễn vòng quanh thế giới và luôn bán hết sạch vé, đến mức một chương trình truyền hình đặc biệt đã được thực hiện khi đoàn biểu diễn tại Tây Ban Nha vào năm 1994. Chương trình kết thúc vào năm 2006 sau 14 năm hoạt động.

Chuyển thể cho nhạc kịch[sửa | sửa mã nguồn]

Theo một bài viết trên báo The Houston Chronicle, "Động lực thúc đẩy Disney bước chân vào thế giới sân khấu là một bài báo của nhà phê bình phim Frank Rich của tờ New York Times, đã khen ngợi rằng Người đẹp và quái thú là bộ phim nhạc kịch hay nhất của năm 1991.... Tổng đạo diễn của Theatre Under The Stars Frank Young đã cố thu hút Disney quan tâm tới một phiên bản chuyển thể cho sân khấu cho phim Người đẹp, cùng lúc đó Eisner và Katzenberg cân nhắc về bài báo của Rich. Nhưng Young có vẻ như đã không cộng tác với đúng người trong đế chế Disney. Không có gì được thực hiện cho tới khi các giám đốc của Disney thực sự theo đuổi dự án từ đầu.... Khi họ hỏi George Ives, the head of Actors Equity on the West Coast, which Los Angeles theater would be the best venue for launching a new musical, Ives nói rằng nhà hát tốt nhất để thực hiện việc đó là TUTS. Không lâu sau đó, Don Frantz và Bettina Buckley của Disney liên hệ với Young, và việc cộng tác bắt đầu."[58] Một phiên bản giản lược dành cho sân khấu của bộ phim, do Robert Jess Roth làm đạo diễn và Matt West dàn dựng, cả hai đều có ý định phát triển nó cho nhà hát Broadway, đã được công diễn tại Disneyland ở nơi mà sau đó được gọi là sân khấu Videopolis.

"Người đẹp và quái thú" lần đầu ra mắt với sự hợp tác sản xuất giữa Theatre Under The Stars và Disney Theatricals tại Hội trường Âm nhạc (Music Hall), Houston, Texas, từ 28 tháng 11 năm 1993, tới 26 tháng 12 năm 1993.[58]

Vào thứ hai, 18 tháng 4 năm 1994, "Người đẹp và quái thú" lần đầu được công chiếu ở Broadway tại nhà hát Palace Theatre ở thành phố New York. Màn trình diễn được chuyển tới nhà hát Lunt-Fontanne Theatre vào ngày 11 tháng 11 năm 1999. Thành công thương mại (tuy không phải là chuyên môn) của vở diễn dẫn tới việc nó được tiếp tục sản xuất ở West End, Toronto, và khắp nơi trên thế giới. Phiên bản Broadway, được công diễn suốt hơn một thập kỷ, nhận được một giải Tony Award, và trở thành vở diễn sân khấu đầu tiên của Disney trong danh sách sản xuất dài sau này. Các diễn viên ban đầu của Broadway tham gia bao gồm Terrence Mann trong vai Quái thú, Susan Egan trong vai Belle, Burke Moses trong vai Gaston, Gary Beach trong vai Lumiere, Heath Lamberts trong vai Cogsworth, Tom Bosley trong vai Maurice, Beth Fowler trong vai Mrs. Potts – Bà Ấm trà, và Stacey Logan trong Babette cây chổi lau nhà. Nhiều diễn viên và ca sĩ nổi tiếng cũng đã tham gia buổi biểu diễn Broadway trong năm thứ mười ba trình diễn bao gồm Kerry Butler, Deborah Gibson, Toni Braxton, Andrea McArdle, Jamie-Lynn Sigler, Christy Carlson Romano, Ashley Brown, và Anneliese van der Pol trong vai Belle; Chuck Wagner, James Barbour, and Jeff McCarthy trong vai Quái thú; Meshach Taylor, Bryan Batt, Jacob Young, và John Tartaglia trong vai Lumiere; và Marc Kudisch, Christopher Sieber, và Donny Osmond trong vai Gaston. Vở diễn kết thúc thời gian trình chiếu tại Broadway vào ngày 29 tháng 7 năm 2007 sau 46 lần diễn thử và 5.461 buổi diễn chính thức. Tính tới năm 2012, đây vẫn là vở diễn có thời gian chiếu dài thứ tám tại Broadway trong lịch sử.

Trò chơi điện tử[sửa | sửa mã nguồn]

Phiên bản tiếng Đức của trò chơi điện tử trên nền NES ở châu Âu năm 1994, Người đẹp và quái thú

Có một số trò chơi điện tử về cơ bản dựa theo cốt truyện của bộ phim:

  • Người đẹp và quái thú là một trò chơi hành động nhập vai do Hudson Soft phát triển và phát hành cho nền tảng máy chơi game NES. Trò chơi được phát hành tại châu Âu vào năm 1994.[59] Gaston, về logic, thật ra là nhân vật chính cuối cùng của trò chơi bởi anh ta muốn giết Quái thú và kết hôn với Belle
  • Disney's Beauty and the Beast là một trò chơi hành động nhập vai cho nền tảng SNES. Nó được phát triển bởi hãng Probe Entertainment và phát hành bởi Hudson Soft ở Bắc Mỹ và châu Âu lần lượt vào tháng 11 năm 1994 và 23 tháng 2, 1995. Trò chơi này được phát hành bởi Virgin Interactive tại Nhật Bản vào ngày 8 tháng 7 năm 1994.[60] Toàn bộ chương trình được chơi từ góc nhìn của nhân vật Quái thú. Trong vai Quái thú, người chơi phải làm sao để Belle yêu mình, từ đó lời nguyền lên chàng và cả toà lâu đài sẽ được hoá giải, nàng sẽ lấy chàng và trở thành một nàng công chúa. Nhân vật chính cuối cùng của trò chơi này là Gaston, một kẻ đi săn tìm cách cướp Belle khỏi tay Quái thú. Thậm chí còn có một cảnh đánh nhau bằng những quả bóng tuyết ở giữa trò chơi và những đoạn tạm dừng ngắn giữa các màn chơi để kể câu chuyện về Người đẹp và quái thú.
  • Beauty & The Beast: Belle's Quest là một trò chơi hành động nhập vai cho nền tảng máy Sega Mega Drive/Genesis. Được phát triển bởi Software Creations, trò chơi được phát hành tại khu vực Bắc Mỹ vào năm 1993.[61] Đây là một trong số hai trò chơi điện tử dựa trên bộ phim do Sunsoft phát hành cho nền tảng Genesis,[59] trò chơi còn lại có tên là Beauty & The Beast: Roar of the Beast (Người đẹp và quái thú: tiếng gầm của Quái thú). Các nhân vật trong phim như Gaston có thể giúp người chơi vượt qua những tình huống phức tạp, nhiều mưu mẹo. Trong vai Belle, người chơi phải tới được lâu đài của Quái thú và giải lời nguyền để được sống hạnh phúc mãi mãi. Để thắng được, nàng phải khám phá ngôi làng, cánh rừng, toà lâu đài và khu rừng tuyết nhằm giải những câu đố và các trò chơi nhỏ trong khi đang lặn dưới nước hoặc nhảy qua kẻ thù. Sức khoẻ của Belle được thể hiện qua một chồng sách màu xanh dương, giảm dần khi nàng chạm phải những con dơi, chuột và các mối nguy khác trong trò chơi. Mạng bổ sung, chìa khoá và các vật dụng khác ẩn giấu trong suốt các bàn chơi. Mặc dù không có tuỳ chọn "tiếp tục" hay cách nào để lưu lại ván chơi dở, người dùng có thể sử dụng một đoạn mã để chơi ở bất kỳ bàn (level) nào trong số 7 bàn có sẵn.[62]
  • Beauty & The Beast: Roar of the Beast là tiêu đề của một trò chơi điện tử side-scrolling cho nền tảng Sega Genesis/Mega Drive. Trò chơi này là một trong hai trò chơi dựa trên bộ phim được phát hành cho nền tảng Sega Genesis, trò chơi còn lại là Beauty & The Beast: Belle's Quest đã nhắc tới ở trên, cả hai đều do Sunsoft sản xuất và phát hành năm 1993. Trong vai Quái thú, người chơi phải hoàn tất thành công một vài mức chơi (level) dựa trên các cảnh trong phim, nhằm bảo vệ lâu đài khỏi những kẻ xâm chiếm từ ngôi làng và thú rừng, đồng thời giải cứu Belle khỏi tên Gaston độc ác.[63] Các cảnh tạm nghỉ giữa các mức chơi kể diễn biến câu chuyện của bộ phim, và các trò chơi nhỏ cũng vậy. Quái thú có thể cúi, nhảy, lắc nắm đấm tay, và dùng một chiến thuật gầm đặc biệt có thể làm cho tất cả kẻ thù đang hiển thị trên màn hình bất động trong một khoảng thời gian ngắn. Đôi lúc anh ta có thể xác định vị trí của các vật phẩm trong mức chơi đó nhằm khôi phục sức mạnh của mình, và trò chơi không giới hạn số lần tạm dừng và tiếp tục. Đây thường được miêu tả là ở mức độ khó cao.[64]
  • Disney's Beauty & The Beast: A Boardgame Adventure là một trò chơi phiêu lưu Disney Boardgame cho máy Game Boy Color.

Giải thưởng và các đề cử[sửa | sửa mã nguồn]

Giải Oscar[sửa | sửa mã nguồn]

Bài hát của Alan Menken và Howard Ashman "Beauty and the Beast" đã giành giải Oscar cho ca khúc trong phim hay nhất, trong khi phần nhạc nền của Menken đã giành Giải Oscar cho nhạc phim hay nhất. Bài bài hát khác của Menken và Ashman trong phim, "Belle" và "Be Our Guest", cũng đã được đề cử cho giải Ca khúc trong phim hay nhất. Người đẹp và quái thú là bộ phim đầu tiên nhận được ba đề cử giải Oscar cho Ca khúc trong phim hay nhất, kỷ lục này đã được lặp lại sau đó bởi các phim Vua sư tử (1994), Dreamgirls (2006), và Enchanted (2007). Quy định của Viện hàn lâm sau đó đã bị thay đổi, hạn chế mỗi phim chỉ được có hai đề cử ở hạng mục này.

Bộ phim cũng được đề cử cho giải Âm thanh xuất sắc nhấtGiải Oscar cho phim xuất sắc nhất. Đây là bộ phim hoạt hình đầu tiên trên thế giới được đề cử giải Phim xuất sắc nhất[65], và vẫn là bộ phim duy nhất được đề cử ở hạng mục này, cho tới năm 2010, khi hạng mục Phim xuất sắc nhất được mở rộng tới mười đề cử, và là bộ phim hoạt hình duy nhất được đề cử cho giải này khi đã nhận được tới năm đề cử khác. Phim để mất giải này vào tay một tác phẩm phiêu lưu được đánh giá cao The Silence of the Lambs. Nó trở thành bộ phim nhạc kịch đầu tiên trong mười hai năm được đề cử cho giải Giải Oscar cho phim xuất sắc nhất của năm sau All That Jazz (1979) và suốt tới mười năm sau đó mới có bộ phim được đề cử tương tự Moulin Rouge! (2001).

Với sáu đề cử, hiện tại chỉ có duy nhất bộ phim cùng giữ kỷ lục số lượng đề cử nhiều nhất cho một bộ phim hoạt hình cùng với Người đẹp và quái thú đó là WALL-E (2008), mặc dù, với ba đề cử ở hạng mục Ca khúc trong phim hay nhất, các đề cử cho Người đẹp và quái thú chỉ có trong bốn hạng mục, trong khi các đề cử cho WALL-E trải rộng trong sáu hạng mục khác nhau.

Giải thưởng[66] Người nhận giải
Nhạc phim gốc hay nhất Alan Menken
Bài hát gốc hay nhất ("Beauty and the Beast") Alan Menken & Howard Ashman
Đề cử:
Best Picture Don Hahn
Bài hát gốc hay nhất ("Belle") Alan Menken & Howard Ashman
Bài hát gốc hay nhất ("Be Our Guest")
Best Sound Terry Porter, Mel Metcalfe, David J. Hudson & Doc Kane

Giải Quả cầu vàng[sửa | sửa mã nguồn]

Trong khi Nàng tiên cá là bộ phim đầu tiên được đề cử ở giải này, thì Người đẹp và quái thú trở thành bộ phim hoạt hình đầu tiên nhận được Giải Quả cầu vàng cho Phim ca nhạc hoặc phim hài hay nhất. Thành công này được tiếp nối bởi Vua sư tửCâu chuyện đồ chơi 2.

Giải thưởng Kết quả
Phim ca nhạc hoặc phim hài hay nhất Đoạt giải
Nhạc phim gốc hay nhất
Ca khúc trong phim hay nhất (cho bài hát "Beauty and the Beast")
Ca khúc trong phim hay nhất (cho bài hát "Be Our Guest") Đề cử

Giải Grammy[sửa | sửa mã nguồn]

Giải thưởng Kết quả
Album hay nhất dành cho trẻ em Đoạt giải
Best Pop Performance by a Group or Duo With Vocal (For "Beauty and the Beast")
Bài hát của năm (cho "Beauty and the Beast") Đoạt giải
Best Instrumental Composition Written for a Motion Picture Đoạt giải
Best Song Written Specifically for a Motion Picture or for Television (For "Beauty and the Beast")
Bản thu âm của năm (cho "Beauty and the Beast") Đề cử
Best Pop Instrumental Performance (For "Beauty and the Beast") Đoạt giải
Album of the Year Đề cử

Các giải thưởng khác[sửa | sửa mã nguồn]

Vào tháng 6 năm 2008, Viện Điện ảnh Hoa Kỳ (American Film Institute) ra mắt danh sách "Ten Top Ten" gồm mười bộ phim xuất sắc nhất trong mười thể loại phim "cổ điển" của Hoa Kỳ dựa trên các cuộc thăm dò hơn 1500 người thuộc cộng đồng làm nghệ thuật/sáng tạo. Người đẹp và quái thú là bộ phim xuất sắc nhất thứ 7 trong danh sách, thuộc thể loại hoạt hình.[67][68] Trong các danh sách trước đó, bộ phim đứng thứ 22 trong danh sách những phim nhạc kịch hay nhất của Viện này và thứ 34 trong danh sách những phim lãng mạn xuất sắc nhất của Hoa Kỳ. Trong danh sách những ca khúc hay nhất trong các phim của Hoa Kỳ, Beauty and the Beast đứng thứ 62.

Giải thưởng Kết quả
ASCAP Film and Television Music Awards: Most Performed Songs in a Motion Picture Đoạt giải
Academy of Science Fiction, Fantasy, and Horror Films: Best DVD Classic Film Release
Academy of Science Fiction, Fantasy, and Horror Films: Best Music
Annie Awards: Best Animated Feature
BAFTA Awards: Best Original Film Score Đề cử
BAFTA Awards: Best Special Effects
BMI Film and TV Awards: BMI Film Music Award Đoạt giải
DVD Exclusive Awards: Best Overall New Extra Features, Library Release
DVD Exclusive Awards: Best Menu Design Đề cử
Hugo Awards: Best Dramatic Presentation
Kansas City Film Critics Circle Awards: Best Animated Feature Đoạt giải
Los Angeles Film Critics Association Awards: Best Animation
Motion Picture Sound Editors: Best Sound Editing, Animated Feature
National Board of Review: Special Award for Animation
Satellite Awards: Best Youth DVD Đề cử
Young Artist Awards: Outstanding Family Entertainment of the Year Đoạt giải

Sự ghi nhận của Viện Điện ảnh Hoa Kỳ (American Film Institute):

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Stewart, Jocelyn (10 tháng 2 năm 2008). “Artist created many famous film posters”. Los Angeles Times. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 2 năm 2008. Truy cập ngày 10 tháng 2 năm 2008. 
  2. ^ a ă â b c Beauty and the Beast @ Box Office Mojo
  3. ^ Smith, Grady (4 tháng 10 năm 2011). “'Beauty and the Beast', 'The Little Mermaid', 'Finding Nemo', 'Monsters, Inc.' get 3-D re-releases”. Entertainment Weekly. Truy cập ngày 27 tháng 10 năm 2011. 
  4. ^ a ă â b c d đ e ê g h i k l m n o Tale as Old as Time: The Making of Beauty and the Beast. [VCD]. Walt Disney Home Entertainment. 2002. 
  5. ^ Thomas, Bob (1991). Disney's Art of Animation: From Mickey Mouse to Beauty and the Beast. New York.: Hyperion. tr. 160–2. ISBN 1-56282-899-1. 
  6. ^ a ă â b c d đ e ê g h i k l Trousdale, Gary; Wise, Kirk; Hahn, Don; and Menken, Alan (2002). DVD audio commentary for Beauty and the Beast: Special Edition. Walt Disney Home Entertainment
  7. ^ Cagle, Jess (13 tháng 12 năm 1991). “Oh, You Beast: Robby Benson roars to his roots – The former teen idol is the voice of Beast in Beauty and the Beast. Entertainment Weekly. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 2 năm 2009. Truy cập ngày 2 tháng 2 năm 2009. 
  8. ^ Thomas, Bob (1991). Disney's Art of Animation: From Mickey Mouse to Beauty and the Beast. New York: Hyperion. tr. 178. ISBN 1-56282-899-1. 
  9. ^ Sito, Tom (2006). Drawing the Line: The Untold Story of the Animation Unions From Bosko to Bart Simpson. The University Press of Kentucky. tr. 301. ISBN 0-8131-2407-7. 
  10. ^ a ă Nichols, Peter M. (2003). The New York Times Essential Library: Children's Movies. New York: Henry Holt and Company. tr. 27–30. ISBN 0-8050-7198-9. 
  11. ^ a ă â b c d đ e ê g h Hahn, Don. (2009). Waking Sleeping Beauty. [Documentary film]. Burbank, California: Stone Circle Pictures/Walt Disney Studios Motion Pictures. 
  12. ^ a ă â b Thomas, Bob (1991). Disney's Art of Animation: From Mickey Mouse to Beauty and the Beast. New York: Hyperion. tr. 142–7. ISBN 1-56282-899-1. 
  13. ^ Griswold, Jerome (2004). The Meanings of "Beauty and the Beast": A Handbook. Broadview Press. tr. 249. ISBN 1-55111-563-8. 
  14. ^ Humphreville, Kim. “La Belle et la Bete”. WCSU. Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2010. 
  15. ^ Hischak, Thomas S (2011). “Voice Guide to Disney Animated Films and Characters”. Disney Voice Actors A Biographical Dictionary. McFarland & Company, Inc. tr. 158. Truy cập ngày 21 tháng 6 năm 2013. 
  16. ^ Huver, Scott (30 tháng 5 năm 2012). “"Beauty and the Beast 3D" Gives Original Star Paige O'Hara a Whole New Perspective”. NBC Chicago. NBCUniversal Media, LLC. Truy cập ngày 21 tháng 6 năm 2013. 
  17. ^ Rusoff, Jane Wollman (22 tháng 11 năm 1992). “Beauty & The Bridge First She Charmed Us With Her Voice In Beauty And The Beast. Now Fort Lauderdale`s Paige O`hara Takes On A Very Different Role In A Film About Chappaquiddick.”. Sun-Sentinel. The Sun-Sentinel. Truy cập ngày 21 tháng 6 năm 2013. 
  18. ^ Nicholson, Amy (13 tháng 1 năm 2012). “Meet Paige O'Hara: The Voice—And More—Of Disney's Smartest Heroine”. Boxoffice. Boxoffice Media. Truy cập ngày 21 tháng 6 năm 2013. 
  19. ^ “Interview With Paige O’Hara, The Voice Of Belle In "Beauty and the Beast"”. Disney Dreaming. DisneyDreaming.com. 5 tháng 10 năm 2010. Truy cập ngày 21 tháng 6 năm 2013. 
  20. ^ Sands, Jez (25 tháng 10 năm 2010). “Beauty And The Beast: Paige O’Hara Interview”. On the Box. OntheBox.com. Truy cập ngày 21 tháng 6 năm 2013. 
  21. ^ Cerasaro, Pat (25 tháng 1 năm 2012). “SPOTLIGHT ON BEAUTY & THE BEAST 3D: Paige O'Hara”. Broadway World. Wisdom Digital Media. Truy cập ngày 21 tháng 6 năm 2013. 
  22. ^ (2006) Audio Commentary by John Musker, Ron Clements, and Alan Menken. Bonus material from The Little Mermaid: Platinum Edition [DVD]. Walt Disney Home Entertainment.
  23. ^ Kanfer (1997), p. 228.
  24. ^ “Celine Dion And Peabo Bryson – Beauty And The Beast”. Chart Stats. Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 2 năm 2014. Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2010. 
  25. ^ “Beauty and the Beast (From Beauty and the Beast) – Peabo Bryson”. Billboard. Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2010. 
  26. ^ Haithman, Diane (17 tháng 8 năm 1991). “Unfinished 'Beauty' to Make Splashy Debut: Movies: The New York Film Festival will premiere Disney's animated work-in-progress on Sept. 29.”. Los Angeles Times. Los Angeles Times. Truy cập ngày 18 tháng 6 năm 2013. 
  27. ^ Honan, William H. (19 tháng 8 năm 1991). “At the New York Film Festival, Works on Art”. The New York Times. The New York Times Company. Truy cập ngày 18 tháng 6 năm 2013. 
  28. ^ Cling, Carol (21 tháng 4 năm 2013). “More than 20 years after 'Beauty and the Beast,' Paige O'Hara still remembered as voice of Disney princess”. Las Vegas Review-Journal. Stephens Media LLC. Truy cập ngày 18 tháng 6 năm 2013. 
  29. ^ “Beauty and the Beast”. Festival de Cannes. Truy cập ngày 16 tháng 8 năm 2009. 
  30. ^ Barr, Jason (27 tháng 9 năm 2010). “Disney to Release Sing-Along BEAUTY AND THE BEAST for Limited Run”. Collider. Truy cập ngày 14 tháng 1 năm 2013. 
  31. ^ Mueller Neff, Martha (27 tháng 9 năm 2010). “Dress up, sing along to 'Beauty and the Beast' this week”. The Plain Dealer. Truy cập ngày 14 tháng 8 năm 2011. 
  32. ^ Stewart, Andrew (5 tháng 8 năm 2010). “Disney retools animation slate 3D Beauty reboot, Newt yanked from schedule”. Variety. Truy cập ngày 15 tháng 8 năm 2011. 
  33. ^ Disney's "Beauty and the Beast" To Be Screened in 3D in Hollywood
  34. ^ Kaufman, Amy (12 tháng 1 năm 2012). “Movie Projector: 'Beauty and the Beast', 'Contraband' fight for No. 1”. Los Angeles Times. Truy cập ngày 13 tháng 1 năm 2012. 
  35. ^ Disney Re-Releasing Films In 3D: 'Beauty & The Beast', 'The Little Mermaid', Others Coming Back
  36. ^ Disney to Remake Beauty and the Beast As Live-Action Film
  37. ^ a ă Gustin, Maija (1 tháng 10 năm 2010). “Movie Rewind: Beauty and the Beast”. The Observer. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 10 năm 2010. Truy cập ngày 1 tháng 10 năm 2010. 
  38. ^ Lufkin, Bryan (1 tháng 10 năm 2010). “'Beauty And The Beast' Stars: Where Are They Now?”. Starpulse. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 10 năm 2010. Truy cập ngày 1 tháng 10 năm 2010. 
  39. ^ Lang, George (1 tháng 10 năm 2010). “Blu-ray Review: "Beauty and the Beast: Diamond Edition"”. The Oklahoman (NewsOK). Truy cập ngày 1 tháng 10 năm 2010. 
  40. ^ Bryson, Carey (26 tháng 9 năm 2010). “Beauty and the Beast Diamond Edition”. About.com / Kids' Movies & TV. Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 9 năm 2010. Truy cập ngày 1 tháng 10 năm 2010. 
  41. ^ “Beauty and the Beast Movie Reviews, Pictures”. Rotten Tomatoes. Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 8 năm 2010. Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2010. 
  42. ^ Smoodin, Eric (1993). Animating Culture. Rutger's University Press. tr. 189. ISBN 0-8135-1948-9. 
  43. ^ Smoodin (1993), p. 190.
  44. ^ Barrier, Michael (1999). Hollywood Cartoons: American Animation in Its Golden Age. New York: Oxford University Press. tr. 571. ISBN 0-19-503759-6. 
  45. ^ a ă Whitley, David (2008). The idea of Nature in Disney Animation. Ashgate Publishing Limited. tr. 44–57. ISBN 978-0-7546-6085-9. 
  46. ^ Hearne, Betsy (February năm 1992). “You did it, little teacup!”. The Bulletin of the Center for Children's Books (Chicago, IL: The university of Chicago Graduate Library School; University of Chicago Press) 45 (6): 145–6. ISSN 00089036. 
  47. ^ Kanfer, Stefan (1997). Serious Business: The Art and Commerce of Animation in America from Betty Boop to Toy Story. Scribner. tr. 221. ISBN 0-684-80079-9. 
  48. ^ Collura, Scott; Fowler, Matt; Goldman, Eric; Schedeen, Jesse; Pirrello, Phil; White, Cindy (24 tháng 6 năm 2010). “Top 25 Animated Movies of All-Time”. IGN. Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 7 năm 2010. Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2010. 
  49. ^ “1991 DOMESTIC GROSSES”. Box Office Mojo. Truy cập ngày 6 tháng 10 năm 2011. 
  50. ^ “$100 Million Movies”. The Washington Post. Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2010. 
  51. ^ “Disney's Animated "Beauty and the Beast" Celebrates 10th Anniversary with Worldwide Large Format Debut at Record 100 Theaters on Jan. 1”. The Tech Museum. Truy cập ngày 9 tháng 5 năm 2012. 
  52. ^ “Beauty and the Beast (IMAX)”. Box Office Mojo. Truy cập ngày 6 tháng 10 năm 2011. 
  53. ^ Box office report: 'Contraband' tops 'Beauty and the Beast 3D' with $24.1 mil
  54. ^ Weekend Report: 'Contraband' Hijacks MLK Weekend
  55. ^ Clevland, Ethan (16 tháng 1 năm 2012). “"Beauty and the Beast" return with $18.5 million”. Big Cartoon News. Truy cập ngày 16 tháng 1 năm 2012. 
  56. ^ 'Beauty and the Beast' gives 3-D another big boost, but is this really about 3-D or is it just about nostalgia?
  57. ^ Beauty and the Beast (3D) @ Box Office Mojo
  58. ^ a ă Evans, Everett (28 tháng 11 năm 1993). “Disney Debut; First stage musical, Beauty, will test waters in Houston”. The Houston Chronicle. tr. 8. 
  59. ^ a ă “Disney's Beauty and the Beast Release Information for NES - GameFAQs”. GameFAQs. Truy cập ngày 2 tháng 5 năm 2008. 
  60. ^ “Disney's Beauty and the Beast Release Information for Super Nintendo - GameFAQs”. GameFAQs. Truy cập ngày 16 tháng 5 năm 2008. 
  61. ^ “Disney's Beauty and the Beast: Belle's Quest Release Information for Genesis - GameFAQs”. GameFAQs. Truy cập ngày 27 tháng 8 năm 2008. 
  62. ^ “Disney's Beauty and the Beast: Belle's Quest (1993) screenshots”. MobyGames. Truy cập ngày 14 tháng 8 năm 2011. 
  63. ^ “Disney's Beauty and the Beast: Roar of the Beast for Genesis (1993)”. MobyGames. Truy cập ngày 14 tháng 8 năm 2011. 
  64. ^ Search:. “Disney's Beauty and the Beast: Roar of the Beast Review for Genesis: I really tried to play this game... I really tried...”. GameFAQs. Truy cập ngày 14 tháng 8 năm 2011. 
  65. ^ Don Hahn (22 tháng 2 năm 2012). “Oscars 1992: Producer Don Hahn on how 'Beauty and the Beast' changed animation”. Entertainment Weekly. Truy cập ngày 29 tháng 9 năm 2013. 
  66. ^ “The 64th Academy Awards (1992) Nominees and Winners”. oscars.org. Truy cập ngày 22 tháng 10 năm 2011. 
  67. ^ “AFI Crowns Top 10 Films in 10 Classic Genres”. ComingSoon.net (American Film Institute). 17 tháng 6 năm 2008. Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 8 năm 2008. Truy cập ngày 18 tháng 8 năm 2008. 
  68. ^ “Top Ten Animation”. American Film Institute. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 6 năm 2008. Truy cập ngày 18 tháng 6 năm 2008. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]