Người đồng tính, song tính hoặc hoán tính làm cha mẹ

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Xe đẩy trẻ con có dán dòng chữ Đây là một gia đình đồng tính và hạnh phúc trong một lễ hội đồng tính.

Nhiều người đồng tính, song tínhhoán tính có con. Chẳng hạn, theo điều tra dân số Hoa Kỳ năm 2000, 33% cặp đồng giới nữ và 22% cặp đồng giới nam đang sống với ít nhất một người con dưới 18 tuổi.[1] Tuy nhiên, vấn đề này thường được tranh cãi ở các nước phương Tây.

Để có con, những người LGBT thường xin con nuôi, thụ tinh nhân tạo hoặc nhận đỡ đầu hoặc có khi con là con riêng của một người với vợ hoặc chồng cũ là dị tính luyến ái.

Ước tính năm 2005 ở Mỹ có khoảng 270.313 trẻ em là con của những cặp đồng giới.[2]

Một vấn đề quan tâm là khi con cái được nuôi bởi những cặp đồng giới có khả năng trở thành đồng tính khi lớn lên hay bị rối loạn về giới tính hay không. Khi nghiên cứu các cặp sinh đôi, bằng chứng cho thấy thiên hướng tình dục là kết quả tác động phức tạp từ cả yếu tố sinh học và yếu tố môi trường. Trong khoa học chưa có sự nhất trí về các tác động của môi trường lên thiên hướng tình dục, để biết thêm chi tiết, xin mời đọc Yếu tố môi trường trong thiên hướng tình dục. Một số nghiên cứu so sánh những người con của hai người mẹ và của một cha một mẹ cho thấy không có sự liên quan giữa việc nuôi con của một người đồng giới và sự hình thành thiên hướng tình dục là đồng tính của con.[3][4][5]

Tuy nhiên, một đứa trẻ được nuôi dưỡng bởi 1 cặp đồng tính chắc chắn sẽ phải đối mặt với nhiều vấn đề hơn. Ví dụ: nếu 1 cặp đồng tính nam nhận con gái nuôi hoặc cặp đồng tính nữ nhận con trai nuôi, đứa trẻ sẽ phải lớn lên mà thiếu vắng sự hướng dẫn giới tính từ người có cùng giới tính với nó, nhất là trong gia đoạn dậy thì, từ đó làm tăng nguy cơ về sự lệch lạc hành vi giới tính. Sự dễ chia tay hoặc quan hệ ngoài luồng, vốn phổ biến của các cặp đồng tính, cũng làm tăng nguy cơ chấn thương tâm lý ở đứa trẻ. Tệ hơn, đứa trẻ có thể phải đối mặt với sự kỳ thị, trêu chọc hoặc cô lập từ bạn bè cùng trang lứa, từ đó hình thành tâm lý bất mãn hoặc nổi loạn. Nhà tâm lý Enrique Rojas cho biết: Theo các nghiên cứu từ Hoa Kỳ, Canada, và New Zealand, 70-80% số đứa trẻ được nuôi bởi người đồng tính sẽ phát triển những khuynh hướng đồng tính tương tự.[6]

Phân tích tổng hợp của Stacy và Biblarz (năm 2001) cho thấy rằng: các bà mẹ nuôi là đồng tính nữ có ảnh hưởng lớn, khiến con trai nuôi của họ trở nên nữ tính trong khi con gái nuôi thì lại trở nên nam tính. Họ báo cáo: "...các cô gái vị thành niên được nuôi bởi các bà mẹ đồng tính sẽ có tỷ lệ cao hơn về tình dục bừa bãi... nói cách khác, trẻ em (đặc biệt là trẻ em gái) được nuôi bởi nữ đồng tính có xu hướng đả phá các quan niệm giới tính truyền thống, trong khi trẻ em được nuôi bởi các bà mẹ thông thường sẽ có biểu hiện phù hợp với giới tính của mình"[7]

Trong chương trình Kinderen voor Kinderen năm 2005 của Hà Lan, một chương trình ca nhạc cho trẻ em, cậu bé Terrence Uphoff đã hát bài Hai người cha của tôi (tiếng Hà Lan:Twee vaders, tiếng Anh: My two fathers) với lời hát tha thiết nói về hai người cha của một cậu bé.

Xem thêm [sửa]

Tham khảo [sửa]

  1. ^ APA Policy Statement on Sexual Orientation, Parents & Children, American Psychological Association, July 28 & 30, 2004. Retrieved on 04-06-2007.
  2. ^ http://www.law.ucla.edu/williamsinstitute/publications/USCensusSnapshot.pdf
  3. ^ Kirkpatrick M, Smith C, Roy R (July năm 1981). “Lesbian mothers and their children: a comparative survey”. Am J Orthopsychiatry 51 (3): 545–51. PMID 7258320. 
  4. ^ Golombok S, Spencer A, Rutter M (October năm 1983). “Children in lesbian and single-parent households: psychosexual and psychiatric appraisal”. J Child Psychol Psychiatry 24 (4): 551–72. doi:10.1111/j.1469-7610.1983.tb00132.x. PMID 6630329. 
  5. ^ Green R, Mandel JB, Hotvedt ME, Gray J, Smith L (April năm 1986). “Lesbian mothers and their children: a comparison with solo parent heterosexual mothers and their children”. Arch Sex Behav 15 (2): 167–84. doi:10.1007/BF01542224. PMID 3718205. 
  6. ^ Eminent Psychiatrist Says Homosexuality is a Disorder that Can be Cured
  7. ^ Stacy, J. & Biblarz, T. J. (2001). Does sexual orientation of parents matter? American Sociological Review, 66 (2), p. 171.