Người Hyksos

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Người Hyksos (tiếng Ai cập:heqa khasewet, "các ông vua ngoại quốc", tiếng Hy Lạp Ὑκσώς, Ὑξώς, tiếng Ả Rập: الملوك الرعاة, các vị vua chăn cừu) là một dân tộc gốc Á, những người đã định cư ở phía đông đồng bằng sông Nile trong triều đại thứ mười hai, và bắt đầu thời kỳ chuyển tiếp thứ hai của Ai Cập cổ đại.[1]

Người Hyksos lần đầu tiên xuất hiện tại Ai Cập trong triều đại thứ mười một, và bắt đầu vuơn lên nắm lấy quyền lực trong triều đại thứ mười ba, và trong giai đoạn chuyển tiếp thứ hai, họ đã kiểm soát cả Avaris cùng với khu vực châu thổ. Đến triều đại thứ mười lăm, họ đã cai trị Hạ Ai Cập, và vào cuối vuơng triều thứ 17, họ bị đánh đuổi khỏi Ai cập.

Vuơng triều thứ 15 của người Hyksos[sửa | sửa mã nguồn]

Theo truyền thống, Chỉ các vị vua của triều đại thứ mười năm được gọi là Hyksos. Tên Hy Lạp "Hyksos" đã được đặt ra bởi Manetho dùng để xác định vương triều thứ mười năm của các vị vua châu Á ở miền bắc Ai Cập. Trong tiếng Ai Cập từ Hykos có nghĩa là "các ông vua ngoại quốc", tuy nhiên, Manetho đã dịch sai từ Hyksos thành "các vị vua chăn cừu".[2][3]

Người Hyksos có các tên gọi như của người Canaan, cũng như được thấy trong các tên gọi các vị thần của người Semit như Anath hoặc Ba'al. Họ đã giới thiệu các kĩ thuật chiến tranh mới vào Ai Cập, đáng chú ý nhất là loại cung ghép và chiến xa do ngựa kéo.

Các vị vua người Hykos của triều đại 15 được biết đến bao gồm:

Name Dates
Sakir-Har Named as an early Hyksos king on a door jamb found at Avaris.
Regnal order uncertain.
Khyan c. 1620 BC
Apophis c. 1580 BC to 1540 BC
Khamudi c. 1540 BC to 1530 BC?

Vương quốc của người Hyksos có trung tâm nằm ở phía đông bằng sông Nile và miền trung Ai Cập và nó bị giới hạn về độ lớn, không bao giờ mở rộng về phía nam vào Thượng Ai Cập, mà vốn nằm dưới sự kiểm soát của các vị vua có căn cứ ở Theban. Người Hykos giao thiệp với miền nam dường như chủ yếu chỉ mang tính chất thương mại mặc dù các ông hoàng Theban dường như đã cộng nhận các vị vua cầm quyền Hyksos và có thể đã cống nạp cho họ trong một khoảng thời gian. Các vị vua của triều đại mười lăm người Hyksos đã thiết lập kinh đô và bộ máy chính quyền tại Avaris.

A group of Asiatic peoples (perhaps the future Hyksos) depicted entering Egypt c.1900 BC from the tomb of a 12th dynasty official Khnumhotep under pharaoh Senusret II at Beni Hasan. The glyphs above are above the head of the first animal

Sự cai trị của các vị vua này đan xen với các vị pharaoh bản địa thuộc triều đại thứ 16 và 17 của Ai Cập, được gọi là thời kỳ chuyển tiếp thứ hai. Vị vua đầu tiên của triều đại thứ 18, Ahmose I, đã đánh đuổi hoàn toàn người Hyksos khỏi thành trì cuối cùng của họ tại Sharuhen thuộc Gaza vào năm thứ 16 triều đại của ông.[4][5] Các học giả đã lấy việc sử dụng ngày càng nhiều các scarab và sự chấp nhận một số hình thức của nghệ thuật nghệ thuật bởi các vị vua triều đại mười lăm Hyksos và phân bố rộng rãi của chúng như là một dấu hiệu cho thấy họ đã dần trở thành Ai cập hóa.[6] Người Hyksos dùng các tước hiệu của Ai Cập kết hợp với vương quyền Ai Cập truyền thống, và vị thần Seth của Ai Cập để đại diện cho vị thần riêng của họ.[7] Bất chấp sự thịnh vượng mà tình hình chính trị ổn định mang lại cho đất nước, những người Ai Cập bản địa tiếp tục để xem người Hyksos như những "kẻ xâm lược" không phải người Ai Cập.

Cuộc xâm lược của người Hyksos?[sửa | sửa mã nguồn]

Theo tác phẩm của Manetho, cũng như được ghi chép lại bởi Josephus, sự xuất hiện của người Hyksos ở Ai Cập được mô tả như là một cuộc xâm lược vũ trang bởi một đám người man rợ nước ngoài chỉ gặp phải sự kháng cự yếu ớt và đã chinh phục đất nước bằng sức mạnh quân sự. Ông ghi lại rằng người Hyksos đã đốt cháy các thành phố, phá hủy các ngôi đền và biến phụ nữ và trẻ em làm nô lệ.[8]

Người ta cho [9] rằng những phương pháp mới mang tính cách mạng trong chiến tranh đã đảm bảo cho người Hyksos uy thế trong những đợt tràn vào và thành lập các khu thực dân mới ở vùng đồng bằng của Ai Cập và ở Thebes nhằm hỗ trợ thương mại Biển Đỏ. Herbert E. Winlock mô tả những vũ khí quân sự mới này chẳng hạn như loại cung ghép, cũng như độ uốn của cung được cải thiện và quan trọng nhất là chiến xa ngựa kéo, cũng như cải thiện đầu mũi tên, các loại kiếm và dao găm khác nhau, một loại thuẫn mới, loại áo giáp, và mũ giáp kim loại[9].

Trong những thập kỷ qua, ý tưởng về một cuộc di dân bình thường, với ít hoặc không có sử dụng bạo lực, đã nhận được sự ủng họ.[10] Theo giả thuyết này, những vị vua Ai Cập của triều đại thứ 13 đã quá yếu để ngăn chặn những đợt di dân mới di chuyển đến Ai Cập từ châu Á và đang phải bận tâm để đối phó với nạn đói và bệnh dịch trong nước.

Tới khoảng năm 1700 trước công nguyên (chỉ hơn một trăm năm sau), Ai Cập đã bị chia rẽ về chính trị với hàng loạt các tiểu quốc địa phương mọc lên trong khu vực đồng bằng phía đông bắc. Một trong số đó là của vua Nehesy, mà kinh đô đặt tại Avaris và ông cai trị một bộ phận dân cư mà phần lớn là người Syro-Palestine đã định cư ở khu vực này trong triều đại thứ 12 và những người đó có lẽ chủ yếu là binh sĩ, thủy thủ, thợ đóng tàu và những người thợ. Triều đại của ông có lẽ đã được thay thế bởi một triều đại Tây-Semitic nói tiếng Syro-Palestine mà hình thành nên nền tảng cho vương quốc Hyksos sau này, và đã có thể bành trướng về phía nam bởi vì tình hình chính trị không ổn định, với sự trợ giúp của quân đội, "tàu, và các mối quan hệ ngoại quốc. ""[11]

Bourriau lập luận rằng mô tả của Manetho về sự cai trị của người Hyksos được xác nhận bởi bằng chứng trong các bài văn của Kamose rằng Kamose từ chối tình trạng chư hầu, sự kiểm soát chặt chẽ biên giới tại Cusae, sự áp đặt thuế việc buôn bán trên sông Nile và sự tồn tại các đơn vị đồn trú của người châu Á dưới sự chỉ huy của các tướng lĩnh Ai Cập[12]

Vào triều đại thứ mười ba của Ai Cập, các lãnh chúa nước ngoài đã sử dụng tên gọi Pharaoh cho bản thân mình và sau đó bắt đầu chiến đấu vì nó.

Phe Thebes tấn công[sửa | sửa mã nguồn]

Dưới thời Seqenenre Tao[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Redford D., Egypt, Canaan and Israel in ancient times, 1992
  2. ^ Chú thích trống (trợ giúp) 
  3. ^ Lloyd, A.B. (1993). Herodotus, Book II: Commentary, 99-182 v. 3. Brill. tr. 76. ISBN 978-90-04-07737-9. Truy cập ngày 23 tháng 12 năm 2011. 
  4. ^ Grimal, Nicolas. A History of Ancient Egypt, p.193. Librairie Arthéme Fayard, 1988.
  5. ^ Redford, Donald B. History and Chronology of the 18th Dynasty of Egypt: Seven Studies, pp.46–49. University of Toronto Press, 1967.
  6. ^ Booth, Charlotte. The Hyksos Period in Egypt. p.15-18. Shire Egyptology. 2005. ISBN 0-7478-0638-1
  7. ^ Booth, Charlotte. The Hyksos Period in Egypt. p.29-31. Shire Egyptology. 2005. ISBN 0-7478-0638-1
  8. ^ History of Egypt from the Earliest Time to the Persian Conquest, James Henry Breasted, p. 216, republished 2003, ISBN 0-7661-7720-3
  9. ^ a b Winlock, Herbert E., The Rise and Fall of the Middle Kingdom in Thebes.
  10. ^ Booth, Charlotte. The Hyksos Period in Egypt. p.10. Shire Egyptology, 2005. ISBN 0-7478-0638-1
  11. ^ Bietak, Manfred "Second Intermediate Period, overview" in Kathryn Bard, ed., Encyclopedia of the Archaeology of Ancient Egypt Routledge 1999 ISBN 0-415-18589-0 p57
  12. ^ The Oxford History of Ancient Egypt, editor Ian Shaw, p. 195, Oxford University Press, 2002, ISBN 0-19-280293-3

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Bietak M., Avaris, the Capital of the Hyksos. Recent Excavations at Tell el-Dab'a, 1996
  • Redford D., Egypt, Canaan and Israel in ancient times, 1992
  • Redford D., "The Hyksos in history and tradition," Orientalia, 39, 1997, 1-52
  • Charlotte Booth: The Hyksos period in Egypt. Princes Risborough, Shire 2005. ISBN 0-7478-0638-1
  • Eliezer D. Oren (Hrsg.): The Hyksos, new historical and archaeological perspectives. Kongressbericht. University Museum Philadelphia. University of Pennsylvania, Philadelphia 1997. ISBN 0-924171-46-4
  • Aharoni, Yohanan and Michael Avi-Yonah, The MacMillan Bible Atlas, Revised Edition, pp. 30–31 (1968 & 1977 by Carta Ltd.).
  • Bimson, John J. Redating the Exodus. Sheffield, England: Sheffield Academic Press, 1981. ISBN 0-907459-04-8
  • von Beckerath, Jürgen. Untersuchungen zur politischen Geschichte der zweiten Zwischenzeit in Ägypten (1965) [Ägyptologische Forschungen, Heft 23]. Basic to any study of this period.
  • Gardiner, Sir Alan. Egypt of the Pharaohs (1964, 1961). Still the classic work in English. See pp. 61–71 for his examination of chronology.
  • Gibson, David J., Whence Came the Hyksos, Kings of Egypt?, 1962
  • Hayes, William C. "Chronology: Egypt—To End of Twentieth Dynasty," in Chapter 6, Volume 1 of The Cambridge Ancient History, Revised Edition. Cambridge, 1964. With excellent bibliography up to 1964. This is CAH’s chronology volume: A basic work.
  • Hayes, William C. "Egypt: From the Death of Ammenemes III to Seqenenre II," in Chapter 2, Volume 2 of The Cambridge Ancient History, Revised Edition (1965) (Fascicle 6).
  • Helck, Wolfgang. Die Beziehungen Ägyptens zu Vorderasien im 3. und 2. Jahrtausend v. Chr. (1962) [Ägyptologische Abhandlungen, Band 5]. An important review article that should be consulted is by William A. Ward, in Orientalia 33 (1964), pp. 135–140.
  • Hornung, Erik. Untersuchungen zur Chronologie und Geschichte des Neuen Reiches (1964) [Ägyptologische Abhandlungen, Band 11]. With an excellent fold-out comparative chronological table at the back with 18th, 19th, and 20th Dynasty dates.
  • James, T.G.H. "Egypt: From the Expulsion of the Hyksos to Amenophis I," in Chapter 2, Volume 2 of The Cambridge Ancient History, Revised Edition (1965) (Fascicle 34).
  • Montet, Pierre. Eternal Egypt (1964). Translated by Doreen Weightman.
  • Pritchard, James B. (Editor). Ancient Near Eastern Texts Relating to the Old Testament(ANET), 3rd edition. (1969). This edition has an extensive supplement at the back containing additional translations. The standard collection of excellent English translations of ancient Near Eastern texts.
  • Redford, Donald B. History and Chronology of the Eighteenth Dynasty of Egypt: Seven Studies. (1967).
  • Redford, Donald B. "The Hyksos Invasion in History and Tradition," Orientalia 39 (1970).
  • Ryholt, Kim SB. The Political Situation in Egypt during the Second Intermediate Period c.1800-1550 B.C. (1997) by Museum Tuscalanum Press.
  • Van Seters, John. The Hyksos: A New Investigation (1967). Two reviews of this volume should be consulted: Kitchen, Kenneth A. "Further Notes on New Kingdom Chronology and History," in Chronique d’Égypte XLIII, No. 86, 1968, pp. 313–324; and Simpson, William J. Review, in Journal of the American Oriental Society 90 (1970), pp. 314–315.
  • Säve-Söderbergh, T. "The Hyksos Rule in Egypt," Journal of Egyptian Archaeology 37 (1951), pp. 53–71.
  • Winlock, H. E. The Rise and Fall of the Middle Kingdom in Thebes (1947). Still a classic with much important information.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]