Người Lê

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Lê (hay Hlai)
Tổng số dân
1,3 triệu (ước)
Khu vực có số dân đáng kể
Hải NamTrung Quốc
Ngôn ngữ
Hlai
Tôn giáo
thuyết vật linh

(chữ Hán: , bính âm: ), hay Hlai, là một dân tộc thiểu số Trung Quốc. Nhóm dân tộc này tạo thành một trong 56 dân tộc được chính thức công nhận bởi Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. 94% người Lê sống ở bờ Nam của Trung Hoa Đại lục, trên đảo Hải Nam, nơi họ là nhóm dân tộc thiếu số lớn nhất.

Trong thời nhà Tùy, họ được gọi bằng tên Liliao, còn hiện nay họ tự gọi mình là người Hlai hay người Sai.

Dân tộc này được Bắc Kinh quý trọng vì họ đã đứng về phe Cộng sản chống lại Quốc Dân đảng trong thời kỳ Nội chiến Trung Quốc[1]. Trong thời kỳ Nhật Bản chiếm đóng, dân Hlai gánh chịu tổn thất nặng nề.

Người Lê có ngôn ngữ riêng, tiếng Lê (hay tiếng Hlai) được xếp loại vào hệ ngôn ngữ Tai-Kadai (trước đây được xếp vào hệ Hán-Tạng). Trước thập niên 1950, tiếng Hlai không có chữ viết riêng cho đến khi áp dụng chữ cái Latinh. Người Lê nhìn chung có thể nói và hiểu tiếng Phổ Thông Trung Quốc.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]