Người Nộ

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Người Nộ (Nu)
[[Tập tin:Tên khác:
Nusu, Anung, Zauzou, Along|frameless]]
Tổng số dân
27.000
Khu vực có số dân đáng kể
Tứ Xuyên, Vân Nam (Trung Quốc)
Ngôn ngữ
Nộ
Tôn giáo
Phật giáo Tây Tạng, Thuyết vật linh, một số theo Thiên Chúa giáo
Dân tộc thiểu số có liên quan
Người Độc Long, Người Tạng, Người Naxi, Người Bạch

Dân tộc Nộ (tiếng Trung: 怒族; bính âm: Nùzú, Hán Việt: Nộ tộc) là một trong 56 dân tộc được công nhận tại Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Tổng dân số của dân tộc này là 27.000 người và được chia thành các nhóm phía Bắc, Trung tâm và Nam. Nơi cư trú của họ là những ngọn núi cao và hẻm núi dọc theo sông Lan Thương (Mekong), sông Dộc LongNộ Giang (Sông Salween). Tên gọi "Nộ" bắt nguồn từ việc họ cư trú gần Nộ Giang tiếng Trung: 怒江; bính âm: Nù Jiāng

Người Nộ chủ yếu cư trú tại tỉnh Vân Nam. 90% cư trú tại các huyện Cống Sơn, Phúc CốngLan Bình thuộc châu Nộ Giang cùng với các dân tộc Lisu, Độc Long, Tạng, BạchHán. Ngoài ra người Nộ cũng sinh sống rải rác ở huyện Duy Tây tại Châu Địch Khách của Vân Nam và huyện Zayü của Khu tự trị Tây Tạng.

Tiếng Nộ thuộc Ngữ hệ Tạng-Miến. Ngôn ngữ này không có chữ viết, tuy nhiên chính quyền Trung Quốc đã trợ giúp để phát triển một loại chữ viết trên cơ sở chữ cái Latinh.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]