Người Việt tại Đức

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Người Việt tại Đức
Vietnamesen in Deutschland
Roesler-klein.jpg
Philipp Rösler
Tổng số dân
125.000 (2005)[1]
Khu vực có số dân đáng kể
Berlin
Ngôn ngữ
Việt, Đức
Tôn giáo
Chủ yếu Phật giáo Đại thừa; một thiểu số Công giáo La Mã[2]
Dân tộc thiểu số có liên quan
Người Việt tại Bulgaria, Người Việt tại Cộng hòa Séc, Người Việt tại Nga, và những nhóm người Việt kiều khác[3]

Người Việt tại Đức là nhóm người ngoại quốc gốc Á lớn nhất tại quốc gia này[4], theo Văn phòng Thống kê Liên bang có 83.446 người có quốc tịch Việt Nam đang sinh sống tại Đức tính đến cuối năm 2005[1]. Không được tính trong các con số đó là những người Việt đã nhập quốc tịch Đức. Giữa những năm 1981 và 2007, 41.499 người đã từ bỏ quốc tịch Việt Nam để lấy quốc tịch Đức[1].Thêm vào đó, khoảng 40.000 người di cư gốc Việt không chính thức cũng hiện đang sinh sống tại Đức, chủ yếu tại các bang ở miền Đông[5].

Lịch sử di cư[sửa | sửa mã nguồn]

Tây Đức[sửa | sửa mã nguồn]

Cộng đồng người Việt tại Tây Đức gồm có những người tị nạn sau Chiến tranh Việt Nam. Những thuyền nhân rời Việt Nam đầu tiên sau khi Sài Gòn thất thủ, gồm có 208 gia đình với tổng cộng 644 người trên con thuyền Hải Hồng, đã đến Hannover bằng máy bay vào ngày 3 tháng 12 năm 1978. Không ai trong số đó có thể nói tiếng Đức[6]. Một số nhân tố đã giúp đỡ họ trong việc hội nhập kinh tế và xã hội trong xã hội Đức. Họ đã nhận được trợ cấp chính phủ dưới hình thức phúc lợi xã hội và giúp đỡ tìm việc làm, cũng như sự ủng hộ của xã hội nói chung trong việc hội nhập vào cuộc sống tại Đức. Hơn thế nữa, khác những nhóm người nhập cư khác, họ nhận thức rằng họ không còn cơ hội hồi hương nếu họ thất bại tại miền đất mới. Họ đã tham gia trong nhiều lĩnh vực kinh tế, nhưng gần như tập trung vào ngành kim loại[7]. Đến lúc nước Đức thống nhất, Tây Đức có khoảng 33.000 người di dân gốc Việt, chủ yếu là những thuyền nhân và thân nhân của họ được vào theo diện đoàn tụ gia đình[8].

Đông Đức[sửa | sửa mã nguồn]

Thợ khách tại Erfurt, 1989
Thợ may Việt ở Rostock, 1990

Đông Đức bắc đầu mời những sinh viên Bắc Việt để tham gia các chương trình học tập và đào tạo từ thập niên 1950; sự hợp tác được mở rộng năm 1973, khi họ hứa sẽ đào tạo 10.000 người nữa trong 10 năm tiếp theo. Năm 1980, Đông Đức ký hiệp định với nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam để các hãng Đông Đức đào tạo người Việt; giữa 1987 và 1989[3]/ Chính phủ Đông Đức xem các chương trình đào tạo công nghiệp không những là một cách để tăng số người lao động trong ngành công nghiệp sở tại, mà còn là một hình thức viện trợ phát triển cho các thành viên nghèo trong khối xã hội chủ nghĩa[7]. Đến giữa thập niên 1980, người Việt, cùng với người Mozambique, tạo thành những nhóm lao động ngoại quốc chính tại Cộng hòa Dân chủ Đức[9]. Từ một dân số 2.482 trong năm 1980, số người Việt tại Đông Đức đã tăng đến 59.053 trong năm 1989, với số người vào lớn nhất trong năm 1987 và 1988[10]. Họ chủ yếu tập trung trong các thành phố Karl-Marx-Stadt, Dresden, Erfurt, Đông BerlinLeipzig[11]. Theo hợp đồng, họ ở Đông Đức 5 năm, sau đó họ sẽ hồi hương[3].

Những người lao động khách Việt Nam nhận tiền lương khoảng M 400/tháng, trong đó chính phủ Việt Nam lấy 12%, và một phần khác được trả bằng hàng hóa tiêu dùng—chủ yếu máy may, xe đạp, quần áo, đường và xà phòng—thay vì tiền mặt vì lạm phát. Khi nói đến các đặc điểm và quan hệ của họ đối với xã hội Đông Đức, họ gần như hoàn toàn trái ngược với những thuyền nhân: họ thuộc thành phần ưu tú từ quốc gia gốc, thay vì là những người tị nạn, và họ biết rằng họ sẽ rời Đức, cho nên không cố gắng hội nhập với xã hội Đông Đức hay học ngôn ngữ sở tại[12]. Mặc dù trên danh nghĩa là những người anh em từ hai nước xã hội chủ nghĩa, những người được huấn luyện từ Việt Nam và những người Đức làm việc với họ không được khuyến khích liên hệ với nhau; thêm vào đó, phụ nữ Việt Nam có thai bị bắt buộc phá thai[13]. Đôi khi họ cũng gặp bạo lực từ những thành phần bài ngoại, và trong những trường hợp họ được bảo đảm an toàn cá nhân, họ bị căm ghét vì họ được ưu đãi trong việc nhận hàng hóa tiêu dùng[11]. Mặt dù cả hai quốc gia đều là nước xã hội chủ nghĩa, nhiều người đã giúp gia đình mình thành tiểu tư sản, dùng những nguyên liệu và máy may gửi về Việt Nam để may đồ và bán cho các người láng giềng[10].

Sau thống nhất[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi nước Đức thống nhất, chính phủ Đức tìm cách giảm bớt số người lao động khách ở miền Đông bằng cách cho mỗi người M3.000 để rời khỏi Đức và hồi hương. Hàng chục nghìn người đã đồng ý và về Việt Nam, nhưng những người này lại được thay thế bởi những người Việt làm lao động hợp đồng ở những nước Đông Âu khác xin tị nạn[3]. Trong suốt thập niên 1990, các cố gắng của chính phủ Đức để đưa những người nhập cư này về quê hương không được hiệu quả cho lắm, vì Đức không muốn cưỡng bức những người này hồi hương và Việt Nam lại không muốn tiếp nhận họ; tuy nhiên, gần 40% bị cấm ở lại Đức dài hạn[14].

Căng thẳng giữa người Đức và người Việt gây ra bạo lực bắt đầu vào ngày 22 tháng 8 năm 1992 tại thành phố Rostock, Mecklenburg-Vorpommern ở đông bắc nước này, nơi những người thanh niên đầu trọc và Tân Quốc xã đã tấn công người Di-gan từ România, và trong ngày thứ ba đã đốt ngôi chung cư nơi trên 100 người Việt tị nạn đang sinh sống. Một số người bị thương nhưng không ai thiệt mạng; cảnh sát đã sơ tán những người Việt cư trú tại đó nhưng không có hành động gì đối với những người tấn công[15][16]. Một tuần sau, những người biểu tình cực đoan đốt một thành phố trại tại Berlin. Tuy một số người địa phương đã cổ vũ vụ Rostock, hầu hết những người Đức tỏ vẻ phê phán hơn về các hành động này; 15.000 người cánh tả đã biểu tình phản đối bạo lực[17]. Thị trưởng của Rostock, ông Klaus Kilimann, đang đi nghỉ mát mãi đến ngày thứ ba của sự việc, bị chỉ trích là làm sự việc xấu thêm vì không ra lệnh cảnh sát can thiệp sớm hơn; ông lại đổ lỗi vào các viên chức của bang, nhưng sau khi chịu nhiều sức ép, đã từ chức vào cuối năm 1993[18].

Tình trạng băng đảng Việt Nam tại Đức trở nên trầm trọng, với khoảng 6 băng nhóm gồm 150 người mỗi nhóm cạnh tranh nhau tại khu vực Berlin năm 1996. Chỉ 5 tháng đầu năm 1996 đã có 15 vụ giết người trong các băng đảng này[19]. Các thành phần tội phạm này buôn lậu thuốc lá và điều hành các ổ cờ bạc, mại dâm và sang băng lậu. Năm 1994, Việt Nam đồng ý nhận lại những người lao động khách để đổi cho $65 triệu tiền "tài trợ phát triển", tuy nhiên đến cuối năm đó chỉ chịu nhận 67 người thay vì 2500 người như đã hứa hẹn[19]. Một số nhà điều tra Đức tin rằng Hà Nội tỏ ra miễn cưỡng khi nhận lại những người lao động khách vì những người cầm đầu các tổ chức tội phạm tại Đức có thể là quan chức chính quyền hay sĩ quan quân đội cấp cao tại Việt Nam[19].

Nhân khẩu và phân bổ[sửa | sửa mã nguồn]

Dân số người Việt tại Đức tương đối trẻ tuổi so với trung bình và các nhóm người thiểu số khác; 25% là trẻ em 15 tuổi trở xuống, 63% giữa 15 và 45 tuổi, với chỉ 10% ở dộ tuổi từ 45 đến 65 và 2% trên 65 tuổi[20]. 10.000 sống ở Berlin, trong đó khoảng một phần tư là người Hoa từ Việt Nam[21][22]. Người Việt, cùng với người Hàn, là một trong những nhóm người nhập cư gốc Á có tỷ lệ nhập cư nam nữ đồng đều, ít nhất là trong những người thường trú hợp pháp; trái lại, người Thái và người Philippines có nhiều phụ nữ hơn nam giới, trong khi người Trung Quốc và Ấn Độ thì ngược lại[8].

Học vấn[sửa | sửa mã nguồn]

Học sinh gốc Việt rất được ưa chuộng, vì họ siêng năng, cho nên có thành tích cao. Nhiều nghiên cứu về giáo dục cho thấy, số học sinh Việt Nam học tại Gymnasium (Trường trung học phổ thông lấy tú tài để được học đại học) rất đông. Nhà giáo dục học Olaf Beuchling dựa theo con số của cơ quan thống kê liên bang đã tính ra rằng, số học sinh gốc Việt học tại Gymnasium nói chung tại Đức là 59% trong khi đó học sinh gốc Đức chỉ có 43%.[23]. Con số này nổi bật nếu ta biết rằng con số học sinh của dân di cư tại Gymnasien thường rất thấp (tại tiểu bang Rheinland-Pfalz trong khóa học 2011/2012 có 41,1% học sinh Đức chuyển từ tiểu học sang Gymnasium trong khi số học sinh có cha hoặc mẹ hoặc cả hai là người ngoại quốc chỉ có 21,9%).[24]

Công ăn việc làm[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi mất công việc, những người lao động khách gốc Việt bán dạo ngoài đường, đặc biệt là bán thuốc lá lậu, trong khi một số khác dựa vào tiền trợ cấp thất nghiệp[20]. Thoạt tiên báo chí Đức có cái nhìn thiện cảm đối những người bán thuốc lá, nhưng đến năm 1993 đã nhấn mạnh liên hệ với tội phạm có tổ chức. Những người bán thuốc lá thường bị cảnh sát ngược đãi; tại Berlin một số người Việt đã bắt đầu xung đột với một người cảnh sát thường hành hung một người bán thuốc lá và dọa sẽ biểu tình và ngăn chặn giao thông để gây sự chú ý cho vấn đề này. Đến giữa năm 1994, truyền thông địa phương đã chú ý đến vấn đề cảnh sát hành hung người Việt; trên 85 cuộc điều tra đã được tiến hành đối với cảnh sát ở Berlin và các khu vực lân cận, nhưng cuối cùng chỉ 5 cảnh sát bị trừng phạt[25].

Sau lời thông cáo năm 1993 rằng chỉ những người có nguồn tài chính hợp pháp mới được cấp giấy phép thường trú, càng thêm những người từng là lao động khách đã tự làm việc riêng vì ít có cơ hội làm việc khác với vốn liếng tiếng Đức ít ỏi. Nhiều người đã mở tiệm hoa và tiệm tạp hóa[26]. Một số người khác nhập khẩu hàng hóa rẻ từ Việt Nam, đặc biệt là vải, và bán lại trong các cửa hiệu gia đình; tuy nhiên, họ không thể cạnh tranh với những cửa hàng giá thấp hơn[27].

Vì các áp lực kinh tế cho các nhà bán lẻ nhỏ, số người Việt thất nghiệp tại Đức có chiều hướng tăng lên, và đến năm 2000 đã có 1.057 người thất nghiệp[26].

Chia rẽ nội bộ[sửa | sửa mã nguồn]

Ngay sau khi Đức thống nhất, cộng đồng Việt Nam tại Đức vẫn còn bị chia rẽ[26]. Sự cảm thông của những người gốc miền Nam dành cho những người gốc miền Bắc lúc đầu đã bị thay thế bằng sự ngờ vực, vì chủ nghĩa chống cộng kiên quyến của những cựu thuyền nhân làm những cựu lao động khách bực mình, và lối xưng hô của những cựu lao động khách gợi lại những ký ức đau buồn cho những cựu thuyền nhân[28][29]. Vì thế, những người Việt tại Đức đến từ miền Nam Việt Nam và miền Bắc Việt Nam ít có quan hệ với nhau.

Những cựu thuyền nhân cũng hòa nhập vào xã hội hơn; họ có thể nói tiếng Đức giỏi, và con cháu họ thường có trình độ học thức cao hơn con cháu những cựu lao động khách. Tuy nhiên, con cháu của những cựu thuyền nhân ít có cầu nối vào văn hóa Việt Nam; trong nhiều trường hợp, cha mẹ nói chuyện với họ bằng tiếng Đức thay vì tiếng Việt, với hy vọng rằng họ sẽ hòa nhập nhanh hơn; kết quả là trình độ tiếng Đức của cha mẹ được trau dồi, trong khi trình độ tiếng Việt của con cái bị giảm dần. Ngược lại, nhiều cựu công nhân khách có trình độ tiếng Đức yếu[30].

Tôn giáo[sửa | sửa mã nguồn]

Chùa Viên Giác tại Hannover

Phần đông người Việt nhập cư tại Đức trên danh nghĩa là tín đồ Phật giáo. Những ngôi chùa kiểu Việt được xây dựng là một trong những dấu tích đáng chú ý nhất cho sự hiện diện của người Việt tại nước này, trong đó đáng kể nhất là chùa Viên Giác ở Hannover, Niedersachsen, chùa Phật giáo lớn nhất ở châu Âu. Những ngôi chùa, cũng như các cuộc diễn hành trong các ngày lễ hội, là những trọng tâm quan trọng trong việc tự giác của người Việt theo đạo Phật tại Đức, một dấu hiệu rằng họ đang coi quốc gia sở tại như nhà mình. Tuy nhiên, sự dễ nhận diện của các ngôi chùa trong không gian công cộng đã dẫn đến sự phản đối từ những người Đức láng giềng, vì họ cho rằng đây là những dấu hiệu người Việt không muốn hòa nhập vào xã hội Đức[31].

Những người Công giáo tạo thành một cộng đồng nhỏ hơn; tính đến tháng 5 năm 1999, có 12.000 người Công giáo gốc Việt tại Đức, theo thống kê của Hội đồng Giám mục Đức[32]. Mỗi năm, cứ vào dịp Lễ Chúa Thánh Thần hiện xuống (khoảng tháng 6), người Công giáo Việt tại Đức lại tổ chức một đại hội thường niên tại Aschaffenburg gần Frankfurt am Main, đến nay đã hơn 35 năm [33].


Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â Wolf tr. 3
  2. ^ Baumann 2000, tr. Ch. 3
  3. ^ a ă â b Bui 2004, tr. 16
  4. ^ Không kể các các quốc gia xuyên lục địa Thổ Nhĩ KỳNga, Văn phòng Thống kề Liên bang liệt kê hai quốc gia này dưới tổng số cho châu Âu thay vì châu Á
  5. ^ Hillmann 2005, tr. 80
  6. ^ “Remembering the First Wave of Boat People in Germany”, Deutsche Welle, 12 tháng 3 năm 2003, truy cập ngày 19 tháng 10 năm 2008 
  7. ^ a ă Hillmann 2005, tr. 86
  8. ^ a ă Hillmann 2005, tr. 82
  9. ^ Hillmann 2005, tr. 87
  10. ^ a ă Hillmann 2005, tr. 90
  11. ^ a ă Hillmann 2005, tr. 89
  12. ^ Hillmann 2005, tr. 88
  13. ^ Pfohl, Manuela (1 tháng 10 năm 2008), “Vietnamesen en Deutschland: Phuongs Traum”, Stern, truy cập ngày 18 tháng 10 năm 2008 
  14. ^ Bui, tr. 17
  15. ^ “Germany for Germans?”, Time, 7 tháng 9 năm 1992, truy cập ngày 19 tháng 10 năm 2008 
  16. ^ “Riots in Rostock”, The Washington Post, 27 tháng 8 năm 1992, truy cập ngày 19 tháng 10 năm 2008 
  17. ^ “German Neo-Nazis Burn Tent City as Violence Continues”, Los Angeles Times, 31 tháng 8 năm 1992, truy cập ngày 19 tháng 10 năm 2008 
  18. ^ Kinzer, Stephen (13 tháng 11 năm 1993), “German Official Quits Over Riots”, The New York Times, truy cập ngày 19 tháng 10 năm 2008 
  19. ^ a ă â Stephen Kinzer (23 tháng 5 năm 1996). “Berlin Journal;In Germany, Vietnamese Terrorize Vietnamese”. The New York Times. Truy cập ngày 17 tháng 11 năm 2008. 
  20. ^ a ă Hillmann 2005, tr. 93
  21. ^ Hillmann 2005, tr. 81
  22. ^ Gütinger 1998, tr. 206
  23. ^ “Die unsichtbaren Lieblinge”. Cicero. 14 tháng 10 năm 2011. 
  24. ^ “Kinder mit Migrationshintergrund seltener auf Gymnasien”. Frankfurter Neue Presse. 20 tháng 3 năm 2012. 
  25. ^ Bui 2004, tr. 49-50
  26. ^ a ă â Hillmann 2005, tr. 95
  27. ^ Mai, Marina (6 tháng 12 năm 2006), “Vietnamesen en Berlin: Stress, Sucht und Skorbut”, Der Spiegel, truy cập ngày 18 tháng 10 năm 2008 
  28. ^ “Bức tường Việt Nam ở Berlin”. BBC tiếng Việt. 28 tháng 11 năm 2004. Truy cập ngày 5 tháng 11 năm 2008. 
  29. ^ Schubert, Sebastian (24 tháng 11 năm 2004), “Berlin's Vietnamese Wall”, Deutsche Welle, truy cập ngày 19 tháng 10 năm 2008 
  30. ^ Hillmann 2005, tr. 96
  31. ^ Baumann 2000, tr. Ch. 6
  32. ^ Fernandez Molina, tr. 321-326
  33. ^ Đại Hội Công Giáo Việt Nam tại Đức kỳ thứ 35: Ngày khai mạc

Tham khảo=[sửa | sửa mã nguồn]

  • Baumann, Martin (2000), Migration—Religion—Integration: Buddhistische Vietnamesen und hinduistische Tamilen in Deutschland, Marburg: Diagonal Verlag, ISBN 978-3-927165-67-0 
  • Bui, Pipo (2004), Envisioning Vietnamese Migrants in Germany: Ethnic Stigma, Immigrant Origin Narratives and Partial Masking, Berlin/Hamburg/Münster: LIT Verlag, 978-3-825869-17-5 
  • Fernandez Molina, Cristina (2005), Katholische Gemeinden anderer Muttersprache in der Bundesrepublik Deutschland: Kirchenrechtliche Stellung und pastorale Situation in den Bistümern im Kontext der Europäischen und deutschen Migrationspolitik, Frank & Timme GmbH, ISBN 978-3-865960-16-0 
  • Hillmann, Felicitas (2005), trong Spaan; Hillmann, Felicitas; van Naerssen, A. L., Riders on the storm: Vietnamese in Germany's two migration systems, Taylor and Francis, tr. 80–100, ISBN 978-4-15365-02-4 Kiểm tra giá trị |isbn= (trợ giúp)  Đã bỏ qua tham số không rõ |editor- first= (trợ giúp)
  • Wolf, Bernd (2007), The Vietnamese diaspora in Germany, Germany: Deutsche Gesellschaft für Technische Zusammenarbeit, truy cập ngày 1 tháng 10 năm 2009 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]