Ngư lôi MK-48

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Ngư lôi MK-48 và các dạng khác được cải tiến của nó được thiết kế để đánh chìm các tàu chiến có tốc độ cao khả năng linh hoạt, nó cũng đựoc dùng để phá hủy các tầu ngầm chạy bằng năng lượng hạt nhân ở vùng nước sâu.

Ngư lôi MK-48 được thiết kế để phóng từ ống phóng ngư lôi trên tàu ngầm. Nó được trang bị trên tất cả các tàu ngầm của Hải quân Hoa Kỳ, gồm các tàu ngầm loại Ohio có trang bị tên lửa đạn đạo và loại tàu ngầm Seawolf, Los AngelesVirginia. Nó cũng đựoc trang bị trên các tàu ngầm của Anh, Úc, Canda.

Bắt đầu hoạt động từ năm 1972, Mk-48 đã thay thế loại ngư lôi MK-37ngư lôi Mk-14. Loại cải tiến Mk-48 ADCAP bắt đầu hoạt động từ năm 1988 và được chuẩn y cho việc sản xuất hàng loạt vào năm 1989.

Mk-48 và Mk-48 ADCAP có thể được dẫn hướng từ tàu ngầm bằng dây gắn trên ngư lôi. Chúng cũng có thể các sen sơ chủ động hoặc bị động riêng đặt trên ngư lôi để tiến hành dò tìm mục tiêu, thực hiện quy trình bám và tấn công mục tiêu. Ngư lôi đựoc thiết kế để nổ dưới các tàu mặt nước.

Các đặc tính kỹ thuật(Mk-48 and Mk-48 ADCAP)[sửa | sửa mã nguồn]

  • Chức năng chính: Ngư lôi loại nhẹ dùng cho tầu ngầm
  • Hãng chế tạo:
  • Chiều dài: 5,79 m
  • Trọng lượng: 1.558 kg (Mk-48); 1.676 kg (Mk-48 ADCAP)
  • Đường kính: 533 mm
  • Tầm hoạt động: > 8 km
  • Độ sâu: > 370 m
  • Tốc độ: > 52 km/h. ADCAP có thể đạt tốc độ lớn nhất 131 km/h
  • Hệ thống dẫn hướng: Dẫn hướng bằng dây và dẫn hướng bằng âm thanh loại chủ động/bị động
  • Đầu đạn: Nặng 295 kg.
  • Sử dụng lần đầu: năm 1972 (Mk-48), năm 1988 (Mk-48 ADCAP)

Sen sơ và sự cải tiến[sửa | sửa mã nguồn]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]