Ngổ

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Ngổ (ngò ôm)
Ngổ (Limnophila aromatica).JPG
Phân loại khoa học
Giới (regnum) Plantae
(không phân hạng) Angiospermae
(không phân hạng) Eudicots
(không phân hạng) Asterids
Bộ (ordo) Lamiales
Họ (familia) Plantaginaceae
Chi (genus) Limnophila
Loài (species) L. aromatica
Danh pháp hai phần
Limnophila aromatica
(Lam.) Merr.
Danh pháp đồng nghĩa
Limnophila chinensis var. aromatica (Lam.) Yamaz.
Ambulia aromatica Lam.
Limnophila gratissima Blume

Ngổ, ngò om hay ngò ôm (danh pháp hai phần: Limnophila aromatica)[1] là một loại rau thơm mọc ở vùng nhiệt đới thuộc họ Mã đề. Các tỉnh miền Nam gọi là rau om hay rau ôm. Tại các tỉnh miền Trung, rau này còn được gọi là ngổ hương. Các tên gọi khác ngổ thơm, ngổ om, mò om hoặc ngổ điếc.

Đặc điểm[sửa | sửa mã nguồn]

Ngổ là cây thân thảo, mọc bò, thân rỗng, giòn, dài 20 – 30 cm, có nhiều lông, mùi rất thơm; mặt nhẵn, mọc đối, không cuống, hơi ôm thân. Phần lá gần thân nhỏ lại, mép lá có răng cưa nhỏ và thưa. Hoa gần như không cuống mọc đơn độc ở nách lá. Quả nang nhẵn, có bướu và nếp nhăn dọc theo quả, ngắn hơn lá đài. Hạt nhẵn hình trụ có màu đen nhạt, có vân mạng.

Phân bố[sửa | sửa mã nguồn]

Ngổ mọc nhiều nhất trong vùng Đông Nam Á, nơi chúng phát triển dễ dàng trong môi trường nóng và nhiều nước, như trong ruộng lúa. Chúng mọc nổi trên mặt nước nhưng cũng có thể trồng trên cạn nếu tưới nhiều nước; khi đó rau mọc thành bụi. Rau này được sử dụng nhiều trong ẩm thực Việt Nam và cũng có thể dùng như một cây cảnh trong hồ cá cảnh hoặc bể thủy sinh. Rau này du nhập Bắc Mỹ giữa thập niên 1970 do người Việt vượt biên sang tỵ nạn và định cư sau chiến tranh Việt Nam.

Ngổ từng được phân loại vào họ Huyền sâm (hay họ Hoa mõm sói) - Scrophulariaceae.

Ngổ dễ bị lẫn với ngổ trâu (Enhydra fluctuansLour.) mà miền Nam gọi là rau ngổ hay ngổ cộng thuộc họ Cúc (Compositae), là loại cây sống nổi hay ngập nước.[2].

Sử dụng trong ẩm thực[sửa | sửa mã nguồn]

Ngổ có một hương vị na ná chanhthì là. Trong ẩm thực Việt Nam, rau này được sử dụng thường xuyên nhất để nấu canh chua kiểu miền Nam, đôi khi dùng kèm với phở Sài Gòn hoặc để ướp thịt, nấu lẩu.[3]miền Bắc, ngổ và rau răm là hai loài rau gia vị không thể thiếu cho món chân giò giả cầy.

Rau ngổ vì thân có nhiều lông và thường mọc ở ao hồ bị nhiễm bẩn nên rất khó rửa sạch để diệt hết vi khuẩn. Vì vậy ăn rau ngổ trồng ở vùng nước dơ là một trong những nguyên nhân dẫn đến ngộ độc thực phẩm và rối loạn tiêu hóa.[1]

Y học cổ truyền[sửa | sửa mã nguồn]

Trong y học cổ truyền, ngò om được dùng để chữa trị sạn thận (sỏi đường tiết niệu),[4] làm thuốc lợi tiểu, chữa những cơn đau thắt bụng.[2] Ngò om thể dùng tươi hoặc phơi sấy khô làm thuốc. Một số nghiên cứu dược học tại Việt Nam cho thấy ngổ có độc tính không đáng kể và độ sử dụng an toàn khá cao, có tác dụng lợi tiểu, giãn cơ, chống co thắt. Tác dụng giãn cơ giải thích thuốc làm mất cơn đau bụng, giãn mạch, tăng lọc cầu ở thận, tăng lượng nước tiểu làm cho viên sỏi bị đẩy ra ngoài khiến bệnh nhân có thể tiểu ra những viên sỏi nhỏ.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă Hội khoa học kỹ thuật an toàn thực phẩm Việt Nam, Ưu khuyết điểm của rau ngổ
  2. ^ a ă GS. Đỗ Tất Lợi, Rau ngổ có tác dụng gì?
  3. ^ Rice Paddy Herb (Limnophila aromatica)
  4. ^ Sỏi đường tiết niệu

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]