Ngụy

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Ngụy là một từ gốc Hán trong tiếng Việt có nhiều nghĩa tùy thuộc vào văn cảnh và từ ghép với nó. Nghĩa hay gặp có nghĩa là làm cho giống như trong từ ngụy trang và một nghĩa khác chỉ phần thừa ra, phần không chính thống, không được công nhận như là trong ngụy triều, ngụy binh, ngụy quân, ngụy quyền.

Tại Việt Nam, có hai từ ngụy thường được sử dụng trong văn hóa giao tiếp và văn học của người Việt.[cần dẫn nguồn] Một từ ngụy (偽) là giả, như ngụy tạo, ngụy quân tử, ngụy trang, ngụy triều, ngụy quyền. Trong lịch sử thường dùng để diễn tả một triều đình hoặc chính quyền do soán đoạt mà có, hoặc do quân xâm lược dựng lên để hợp thức hóa sự xâm lược, đô hộ và phục vụ cho sự đô hộ, xâm lược đó. Còn bản thân nó không có thực quyền, không có thực lực, hữu danh vô thực [1], không có đủ phẩm chất của một chính quyền hay triều đình đúng nghĩa, không hội đủ tiêu chuẩn của một triều đình, chính quyền đúng nghĩa [cần dẫn nguồn], mang tính chất bất hợp pháp và không chính danh.[2][3]

Một từ Ngụy (魏) là danh từ dùng để chỉ nước Ngụy thời Chiến Quốc bên Trung Quốc, nhà Ngụy thời Tam Quốc bên Trung Quốc, hay họ Ngụy tại Đông Á, trong đó có Việt Nam. Từ này thường được viết hoa.

Mục lục

[sửa] Việc sử dụng từ ngụy trong lịch sử các nước

[sửa] Trung Quốc

Nước Ngụy (魏) thời Đông Chu, nước Ngụy (魏) thời Tam Quốc v.v là chỉ là danh từ đặt theo tư duy nguồn gốc lập quốc của các vua chúa. Nhưng cũng có một số triều đại và nhân vật được gọi là "ngụy" (偽) theo nghĩa là không chính thống, không được thừa nhận.

Trong chiến tranh Trung-Nhật, chính phủ Đài Loan của Uông Tinh Vệ và chính phủ Mãn Châu quốc của Phổ Nghi, đồng minh của người Nhật, bị cả Cộng sản ĐảngQuốc Dân Đảng gọi là "ngụy quyền", "ngụy triều", hoặc "chính phủ ngụy". Thuật ngữ này cũng được gọi trên các kênh truyền thông, sách báo, phim ảnh của Trung QuốcĐài Loan (của Quốc Dân Đảng) sau này.

[sửa] Việt Nam

Lịch sử Việt Nam cũng có nét tương đồng với lịch sử Trung Quốc trong việc sử dụng từ ngụy. Sử gia Trần Trọng Kim giải thích sự tương đồng này như sau: "Những người làm quốc sử nước Tàu và nước ta thường chia những nhà làm vua ra chính thống và ngụy triều. Nhà nào, một là đánh giặc mở nước, sáng tạo ra cơ nghiệp, hai là được kế truyền phân minh, thần dân đều phục, ba là dẹp loạn yên dân, dựng nghiệp ở đất Trung Nguyên, thì cho là chính thống. Nhà nào, một là làm tôi cướp ngôi vua, làm sự thoán đoạt không thành, hai là xưng đế, xưng vương ở chỗ rừng núi, hay là ở đất biên địa, ba là những người ngoại chủng vào chiếm nước làm vua, thì cho là ngụy triều."[1]

[sửa] Nhà Hồ

Trong lịch sử Việt Nam, nhà Hồ cũng bị gọi là "ngụy Hồ" do việc lên ngôi không chính danh, thông qua con đường cướp ngôi[cần dẫn nguồn].

[sửa] Nhà Mạc

Tương tự nhà Hồ, nhà Mạc cũng bị các sử gia nhà Lê trung hưng gọi là "ngụy Mạc" [cần dẫn nguồn].

[sửa] Nhà Tây Sơn

Trong suốt thời gian chiến tranh và sau khi đánh bại nhà Tây Sơn, Nguyễn Ánh và sau này là nhà Nguyễn thường hay dùng từ ngụy khi nhắc tới Tây Sơn. Những từ ghép có thể là "ngụy Tây Sơn",[4] "ngụy Tây",[5]"ngụy triều",[1] "ngụy Huệ",[6] "ngụy Nhạc[7].. Việc gọi tên này phổ biến trong suốt thời gian nhà Nguyễn còn mạnh, khi hầu hết các văn sử chính thống của triều đình đều dùng các từ trên mỗi khi nhắc đến nhà Tây Sơn, đơn cử là cuốn Ngụy Tây liệt truyện của Quốc Sử quán triều Nguyễn. Sử gia Trần Trọng Kim trong Việt Nam sử lược khi viết về Tây Sơn tỏ ra không đồng ý với kiểu gán ghép này khi ông viết: "..lấy những lẽ ấy mà xét xem nên cho nhà Nguyễn Tây Sơn làm chính thống hay ngụy triều, để cho hợp lẽ công bằng và cho xứng cái danh hiệu những người anh hùng đã qua. [1]

[sửa] Thời Pháp thuộc

Sau khi quân đội viễn chinh Pháp xâm lược và áp đặt chế độ thuộc địa ở Đông Dương (trong đó có Việt Nam), chính phủ Pháp đã dùng chính sách "chia để trị" và chia cắt Việt Nam ra làm 3 xứ riêng lẻ là Cochinchine (Nam Kỳ), Annam (Trung Kỳ), và Tonkin (Bắc Kỳ), 3 vùng cùng với Lào và Campuchia đã trở thành Liên bang Đông Dương (Union Indochinoise) hay còn được gọi với tên Đông Dương thuộc Pháp (Indochine française). Người Pháp tiếp tục duy trì các hoàng đế bù nhìn từ Đồng Khánh, Thành Thái, cho đến Bảo Đại. Vào năm 1887, hoàn tất quá trình xâm lược Việt Nam, người Pháp đã tổ chức ra một bộ máy cai trị khá hoàn chỉnh từ trung ương cho đến địa phương.

Trong thời gian cai trị Việt Nam, thực dân Pháp đã mua chuộc và sử dụng một số cộng sự người Việt, họ cũng cho xây dựng và thành lập một số đơn vị quân đội bản xứ, nhằm hỗ trợ quân chính quy người Pháp trong việc trấn áp nghĩa quân và các lực lượng nổi dậy ở Việt Nam, tiêu biểu là Quân đoàn bộ binh Bắc Kỳ, lính khố xanh, lính khố đỏ, lính khố vàng... Một số người Việt được toàn quyền Đông Dương tuyển dụng vào quân đội Lê dương Pháp. Tất cả các đội quân này đều do sĩ quan Pháp chỉ huy. Các lực lượng nghĩa quân và nhiều người dân bản xứ gọi các đội quân này và lính Nam triều là ngụy quân hoặc ngụy binh. Họ cũng gọi các triều đình bù nhìn ở Huế là ngụy triều, thường kết hợp với niên hiệu của hoàng đế bù nhìn, như đầu thế kỷ 20 các nhà nho thường gọi triều đình là ngụy triều Khải Định. [8] [9] [10]

[sửa] Chiến tranh Đông Dương

Năm 1945, Hồ Chí Minh tuyên bố Việt Nam thống nhất và độc lập với tên gọi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Tuy nhiên, tại miền Nam Việt Nam, chỉ bốn ngày sau khi Việt Nam tuyên bố độc lập, phái bộ quân sự Anh đã có mặt ở Sài Gòn, theo sau là liên quân Anh-Pháp. Quân Anh trên danh nghĩa là theo lệnh Đồng Minh vào giải giáp quân đội Nhật nhưng đồng thời cũng tạo điều kiện cho quân đội Pháp vào miền Nam của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Chính phủ Pháp muốn khôi phục lãnh thổ thuộc địa Đông Dương. Pháp tuyên bố sẽ lập chính quyền tại miền Nam. Sau đó, với sự giúp đỡ của quân Anh, quân Pháp nổ súng chiếm quyền kiểm soát Sài Gòn. Nước Việt Nam vừa giành được độc lập lại đứng nạn ngoại xâm.

Ngày 9 tháng 10, tướng Pháp Leclerc đến Sài Gòn, theo ông là lực lượng gồm 40.000 quân Pháp để chiếm giữ miền Nam Việt Nam và Campuchia. Từ cuối tháng 10, quân Pháp bắt đầu đẩy mạnh kế hoạch phá vây, mở rộng đánh chiếm ra vùng xung quanh Sài Gòn và các tỉnh miền Nam Việt Nam, chiến tranh Đông Dương bùng nổ và kéo dài đến năm 1954 mới kết thúc sau trận Điện Biên Phủhiệp định Geneve 1954 về Đông Dương.

Chiến tranh Việt - Pháp kéo dài từ năm 1945 đến 1954. Năm 1948, thực dân Pháp thành lập một chính quyền bản xứ người Việt (chính phủ Quốc gia) để làm đối trọng với Việt Minh, áp dụng chính sách "dùng người Việt đánh người Việt" và để thuyết phục Mỹ viện trợ kinh tế và quân sự để Pháp có thể tiếp tục đứng chân tại Đông Dương [11].

Năm 1949, thực dân Pháp xây dựng và thành lập "quân đội Quốc gia" để phụ trợ cho quân đội chính quy người Pháp. Quân đội này được huấn luyện kém và không có sĩ quan chỉ huy cấp cao người Việt[12]. Pháp chỉ đơn giản là đưa những người lính bản địa mới tuyển mộ được vào các quân đoàn viễn chinh của Pháp, tại đó, người chỉ huy là các sĩ quan Pháp [13].

Trong thời gian chiến tranh, Hồ Chí Minh và chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa gọi chính quyền Quốc gia Việt Namngụy quyềnQuân đội Quốc gia Việt Namngụy binh, ngụy quân, quân ngụy, hoặc lính ngụy. [14]

Trong Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao Động Việt Nam khóa II họp từ ngày 27-9 đến ngày 5-10-1951. Hội nghị nhận định tình hình chiến sự và đề ra nhiệm vụ phải phá chính sách "lấy chiến tranh nuôi chiến tranh, dùng người Việt đánh người Việt" của thực dân Pháp và nhấn mạnh công tác "ngụy vận", đặc điểm của công tác này là phải: Coi công tác ngụy vận là một công tác vận động quần chúng, nhằm mục đích lâu dài. Phải biết gắn liền ngụy vận với dân vận trong vùng tạm chiếm. Phải phối hợp ngụy vận với tác chiến, khi có những điều kiện thuận lợi thì mở những cuộc tấn công chính trị để làm tan ra hàng ngũ ngụy binh. Cách thức tuyên truyền và vận động ngụy binh đều phải nhằm những điểm nói trên mà định cho thích hợp. Đi đôi với công tác vận động ngụy binh, phải tăng cường công tác vận động binh sĩ Âu - Phi. [15]

Năm 1953, nhân ngày Quốc tế Lao động, Đảng Lao động Việt Nam và chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa kêu gọi lính Quốc gia bỏ hàng ngũ Pháp, trở về với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Họ tuyên bố luôn khoan hồng đối với những người "lầm lỗi biết hối cải và lập công". Chính phủ chủ trương chia ruộng đất công cho người lính nào bỏ hàng ngũ Pháp trở về với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. [16]

Năm 1951, Hồ Chí Minh liên tục viết ba bức thư gởi những người lính trong Quân đội Quốc gia Việt Nam để thuyết phục họ theo về với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Quân đội Nhân dân Việt Nam. Tháng 6 năm đó ông viết bức thư "Vận động ngụy binh" [17]. Tháng 9 ông viết bức thư "Thư gửi các ngụy binh" [18]. Tháng 11 ông viết bức thư "Lời kêu gọi ngụy binh quay về với Tổ quốc" [19].

Tháng 3 năm 1952, Hồ Chí Minh viết bức thư "Ngụy binh giác ngộ" nêu một số tấm gương lính người Việt trong quân đội Liên hiệp Pháp rời bỏ hàng ngũ theo về với Việt Minh. Nội dung tuyên truyền chính sách khoan hồng của ĐảngMặt Trận. [20] [21]

[sửa] Chiến tranh Việt Nam

Từ ngụy quyền/quân có nghĩa là chính quyền/quân đội bất hợp pháp.[3] Cụm từ này được cả hai phe đối địch trong chiến tranh sử dụng để chỉ trích lẫn nhau. Tuy nhiên, cụm từ này được sử dụng rộng rãi trên các nghị quyết, văn kiện Đảng, phương tiện truyền thông chính thức của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam [22][23][24][25][26][27]. Trong khi các phương tiện truyền thông của Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng hòa thường gọi Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là "Cộng sản Bắc Việt", "Bắc Việt" và Mặt Trận Giải phóng miền Nam Việt Nam là "Việt Cộng" [28][29][30]

Đầu tiên, chính quyền Việt Nam Cộng hòa bị Việt Nam Dân chủ Cộng hòaMặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam gọi là "ngụy quyền Sài Gòn" hay "ngụy quyền"; và quân lực Việt Nam Cộng hòa thì được gọi là "ngụy quân".

Trong thập niên 1960, Hồ Chí Minh có những bài báo, bài diễn văn gọi Việt Nam Cộng hòa là "ngụy". [31][32] Năm 1960, Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam Việt Nam được thành lập trên danh nghĩa "Đoàn kết toàn dân đánh bại chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ, đánh đổ ngụy quyền tay sai của chúng, giải phóng miền Nam, tiến tới thống nhất Tổ quốc"[33]. Chính sách học tập cải tạo sau năm 1975 của CHXHCN Việt Nam cũng được thực hiện trên danh nghĩa: "Việc tổ chức cho ngụy quân, ngụy quyền và các đối tượng phản động ra trình diện học tập cải tạo thể hiện chính sách nhân đạo của ĐảngNhà nước, có tác dụng phân hóa hàng ngũ bọn phản động, cô lập bọn đầu sỏ ngoan cố, đập tan luận điệu tuyên truyền chiến tranh tâm lý của địch, tranh thủ được sự đồng tình và ủng hộ của nhân dân."[34]

Theo Arthur J. Dommen, từ "ngụy quyền" không xuất hiện từ đầu cuộc chiến, nó chỉ xuất hiện từ sau sự kiện đảo chính ở Việt Nam Cộng hòa năm 1963 để thay thế cho cụm từ "chính quyền Mỹ-Diệm".[3] Sau khi chiến tranh Việt Nam kết thúc năm 1975, các từ "ngụy quân", "ngụy quyền" vẫn tiếp tục được sử dụng một cách rộng rãi trong truyền thông Việt Nam để chỉ chính quyền Quốc gia Việt Nam, Quân đội Quốc gia Việt Nam[35][36][37][38] và chính quyền Việt Nam Cộng hòa, Quân lực Việt Nam Cộng hòa.

Sau khi chính sách Đổi mới được thi hành năm 1986, ngôn ngữ dùng để miêu tả chính quyền Việt Nam Cộng hòa cũng được mềm dẻo hóa.[39] Cụm từ "ngụy quyền Sài Gòn" đã được thay thế bằng cụm từ "chính quyền Sài Gòn". Các từ khác như "ngụy quân", "ngụy quyền", "có nợ máu với nhân dân", "tên bù nhìn Nguyễn Văn Thiệu" cũng từ từ được bỏ đi.[39] Chính sách này có tác dụng lớn cho những người thuộc cả hai phía, nó góp phần đẩy mạnh quá trình hàn gắn vết thương quá khứ mà chính phủ Việt Nam đang cố gắng thực hiện.[39]

Ngoài ra, trong một số tài liệu tuyên truyền của Cục Tâm Lý Chiến Quân lực Việt Nam Cộng hòa trước đây cũng có ghép chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa với từ "ngụy" như "ngụy quyền Hà Nội",[40] hay "ngụy quyền Cộng Sản".[41] Tuy nhiên, những từ này không được sử dụng rộng rãi trong dư luận, kể cả trong hàng ngũ chính quyền và quân đội Việt Nam Cộng hòa, cộng đồng người Việt hải ngoại và những người chống cộng.[cần dẫn nguồn] Các phương tiện truyền thông của Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng hòa thường gọi Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là "Cộng sản Bắc Việt", "Bắc Việt" và Mặt Trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam là "Việt Cộng" [42][43][44].

[sửa] Chú thích

  1. ^ a b c d Trần Trọng Kim (1971), Việt Nam sử lược, 2, Sài Gòn: Trung tâm Học liệu Xuất bản thuộc Bộ Giáo dục, tr. 127, http://www.songhuong.com.vn/main.php?cid=40,3&id=16&case=2&left=40,18&gr=3# ..
  2. ^ Hồ Ngọc Đức, Free Vietnamese Dictionary Project
  3. ^ a b c Dommen, Arthur J. (2001). The Indochinese experience of the French and the Americans: nationalism and communism in Cambodia, Laos, and Vietnam. Bloomington: Indiana University Press. tr. 573. ISBN 0-253-33854-9. 
  4. ^ Quốc sử quán triều Nguyễn (1992). Đại Nam nhất thống chí , tập 2. NXB Giáo Dục. tr. 144. 
  5. ^ Phạm Thế Ngũ (1961). Việt Nam văn học sử giản ước tân biên. Quốc Học Tùng Thư. tr. 193. 
  6. ^ Phạm Khắc Hòe (1992). Kể chuyện vua quan nhà Nguyễn. NXB Thuan Hoa. tr. 20. 
  7. ^ Quách Tấn và Quách Giao (2000). Nhà Tây Sơn. NXB Trẻ. tr. 18. 
  8. ^ http://www.lichsuvietnam.vn/home.php?option=com_content&task=view&id=365&Itemid=35
  9. ^ http://tonvinhvanhoadoc.vn/van-hoa-nghe-thuat-va-tri-thuc/diem-hen-tri-thuc/1679-cuoc-khoi-binh-nau-song-1898-1900-a-vo-tru-1855-1900-qua-cac-nguon-tu-lieu-khac-nhau.html
  10. ^ http://tuoitrekiengiang.vn/aboutkg.php?idcate=7&PHPSESSID=79502de4d4676cd2d1733f0144c120ff
  11. ^ William Duiker, Ho Chi Minh: A Life, Hyperion, 2000, tr.412-413
  12. ^ Spencer C.Tucker, Encyclopedia of the Vietnam War, ABC-CLIO, 2000, tr. 474.
  13. ^ Spencer C.Tucker, Encyclopedia of the Vietnam War, ABC-CLIO, 2000, tr. 189.
  14. ^ http://www.thanglonghanoi.gov.vn/channel/102/2010/04/5461/#vK2f49a3Pra5
  15. ^ http://www.cpv.org.vn/cpv/Modules/News/NewsDetail.aspx?co_id=30652&cn_id=156248
  16. ^ Lời kêu gọi của Đảng Lao Động Việt Nam nhân ngày Quốc tế Lao động 1953; http://www.laodong.com.vn/Home/Loi-keu-goi-cua-Dang-Lao-dong-Viet-Nam-nhan-Ngay-Quoc-te-Lao-dong-151953/20084/86576.laodong
  17. ^ http://123.30.49.74:8080/tiengviet/tulieuvankien/4lanhtu/details.asp?topic=3&subtopic=91&leader_topic=9&id=BT150366483
  18. ^ http://123.30.49.74:8080/tiengviet/tulieuvankien/4lanhtu/details.asp?topic=3&subtopic=91&leader_topic=9&id=BT150364926
  19. ^ http://123.30.49.74:8080/tiengviet/tulieuvankien/4lanhtu/details.asp?topic=3&subtopic=91&leader_topic=&id=BT150364150
  20. ^ http://123.30.49.74:8080/tiengviet/tulieuvankien/tulieuvedang/details.asp?topic=168&subtopic=464&leader_topic=982&id=BT2911042759
  21. ^ Nguyên văn bài viết trên báo điện tử ĐCSVN
  22. ^ Y Tế Giải Phóng Miền Nam http://www.moh.gov.vn/html/portlet/vcmsviewcontent/print_article.jsp?printArticleId=10202
  23. ^ http://www.soctrang.edu.vn/chitiettin.asp?IDT=892333075443
  24. ^ Báo điện tử Công An Nhân Dân - An Ninh Thế Giới
  25. ^ ĐỀ CƯƠNG TUYÊN TRUYỀN KỶ NIỆM 35 NĂM NGÀY GIẢI PHÓNG HOÀN TOÀN MIỀN NAM THỐNG NHẤT TỔ QUỐC (30/4/1975 - 30/4/2010)
  26. ^ Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1977, tr.25-26
  27. ^ Lịch sử Kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975 - Tập 3 NXB Chính trị Quốc gia, 1997, Trung tướng, PGS. NGUYỄN ĐÌNH ƯỚC
  28. ^ Michael Mc Lear. Vietnam, The Ten Thousand Day War. Thames Methuen. London. 1982
  29. ^ Gia đình Võ Bị Đà Lạt
  30. ^ Báo Sài Gòn Time USA http://saigontimesusa.com/bai/sinhhoat/letuongniem1157.shtml
  31. ^ "Lời kêu gọi cả nước tiến lên đánh thắng giặc Mỹ xâm lược" của Hồ Chí Minh năm 1968 http://123.30.49.74:8080/tiengviet/tulieuvankien/4lanhtu/details.asp?topic=3&subtopic=91&leader_topic=&id=BT230337878
  32. ^ Bài viết của Hồ Chí Minh trên báo Nhân dân, số 4308, ngày 20-1-1966 http://123.30.49.74:8080/tiengviet/tulieuvankien/4lanhtu/details.asp?topic=3&subtopic=91&leader_topic=9&id=BT430332862
  33. ^ http://www.mattran.org.vn/Home/GioithieuMT/mtdttt9.htm
  34. ^ Báo điện tử tỉnh Tiền Giang / http://www.tiengiang.gov.vn/xemtin.asp?idcha=2673&cap=4&id=2674
  35. ^ http://egov.laocai.gov.vn/sites/sovhttdl/lichsulaocai/lichsulaocai/Trang/634051425812510000.aspx
  36. ^ http://www.vnpt-hanoi.com.vn/gioithieu_lichsuphattrienII_2.asp
  37. ^ Báo điện tử ĐCSVN http://www.cpv.org.vn/cpv/Modules/Preview/PrintPreview.aspx?co_id=30387&cn_id=337802
  38. ^ http://www.caycanhvikhe.vn/introduce/tradevilage/detail.php?ID=345
  39. ^ a b c Clyne, Michael G. (1997). Undoing and Redoing Corpus Planning (Contributions to the Sociology of Language). Berlin: Mouton de Gruyter. tr. 155 – 156. ISBN 3-11-015509-5. 
  40. ^ Chiến-sĩ Cộng-hòa. Cục-Tâm-Lý-Chiến Quân lực Việt Nam Cộng hòa. 1965. tr. 23. 
  41. ^ Free Pacific magazine. 1963. tr. 245. 
  42. ^ Michael Mc Lear. Vietnam, The Ten Thousand Day War. Thames Methuen. London. 1982
  43. ^ Gia đình Võ Bị Đà Lạt
  44. ^ Báo Sài Gòn Time USA http://saigontimesusa.com/bai/sinhhoat/letuongniem1157.shtml
Công cụ cá nhân
Không gian tên

Biến thể
Tác vụ
Xem nhanh
Tương tác
Công cụ
In/xuất ra
Ngôn ngữ khác