Ngựa hoang Mông Cổ

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Ngựa hoang Mông Cổ
Takhi Hustai.jpg
Ngựa hoang Mông Cổ tại Công viên Quốc gia Khustain Nuruu
Tình trạng bảo tồn
Phân loại khoa học
Giới (regnum) Animalia
Ngành (phylum) Chordata
Lớp (class) Mammalia
Bộ (ordo) Perissodactyla
Họ (familia) Equidae
Chi (genus) Equus
Phân chi (subgenus) E. (Equus)
Loài (species) E. ferus
Phân loài (subspecies) E. f. przewalskii
Danh pháp ba phần
Equus ferus przewalskii
(L. S. Poliakov, 1881)
Phân bố của ngựa hoang Mông Cổ
Phân bố của ngựa hoang Mông Cổ
Danh pháp đồng nghĩa
hagenbecki Matschie, 1903
prjevalskii Ewart, 1903
typicus
Hilzheimer, 1909

Ngựa hoang Mông Cổ hay còn gọi là ngựa hoang Przewalski là những con ngựa hoang phân bố trên những thảo nguyênMông Cổ. Ngựa Przewalski được đặt tên theo nhà thám hiểm người Nga là Nikolai Mikhailovich Przewalski, người đầu tiên phát hiện ra chúng vào khoảng năm 1880 tại khu vực sa mạc Gobi. Ngựa Przewalski được xếp vào nhóm có nguy cơ tuyệt chủng trong thiên nhiên. Từ năm 1960, loài ngựa quý hiếm này đã được liệt vào nhóm động vật có nguy cơ tuyệt chủng cao của Sách Đỏ.

Đặc điểm[sửa | sửa mã nguồn]

Một con ngựa hoang Mông Cổ trưởng thành nặng khoảng 250-300 kg hoặc từ 250–350 kg, cao tầm 1m30 và dài 2m.[1] Loài ngựa màu nâu này có chiếc cổ ngắn một cách đặc trưng. Đặc biệt, ngựa Przewalski có 66 nhiễm sắc thể thay vì 64 như những loài ngựa khác.[2] Thức ăn chủ yếu của loài ngựa thảo nguyên này là cỏ và một số loài thực vật đặc biệt. Vào mùa đông, khi cây cỏ không phát triển một số khu bảo tồn sẽ cho chúng ăn cỏ khô, đậungô.[3] Ngựa hoang Mông Cổ có thể phát hiện nguy hiểm từ khoảng cách 300 mét và bỏ chạy ngay lập tức.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Khoảng 20.000 năm trước, loài ngựa này sống tại Châu Âu nhưng biến đổi khí hậu khiến chúng rời môi trường sống sang Châu Á.[1] Loài ngựa thảo nguyên Mông Cổ này từng có số lượng rất đông đúc, thậm chí chúng còn di cư ngược sang vùng Tây Âu để sinh sống. Sau nhiều thế kỷ chống chọi với sự biến đổi khắc nghiệt của khí hậu thì hiện nay ngựa Przewalski còn là nạn nhân của những kẻ săn bắn trộm, khiến số lượng giảm mạnh.

Theo các câu truyện cổ truyền miệng của Trung Quốc, cách đây 2.000 năm, một phạm nhân bị lưu đày đã nhìn thấy loài ngựa hoang này ở khu vực gần thành Đôn Hoàng, nơi giao với Con đường Tơ lụa. Người phạm nhân lập mưu bắt ngựa để dâng cho vua Hán Vũ Đế nhưng không thành. Thậm chí, nhà vua còn viết một bài thơ về loài ngựa lạ này. Châu Âu ghi nhận loài ngựa này vào cuối thể kỷ 19 khi nhà thám hiểm người Nga Nikolai Mikhailovich Przewalski (1839-1888) phát hiện ra chúng tại các núi giáp với sa mạc Gobi.[1]

Khác với các loài ngựa "hoang" khác đã từng được thuần hóa, loài ngựa hoang Mông Cổ chưa bao giờ được thuần hóa, và là loại ngựa hoang thật sự duy nhất còn tồn tại đến nay.[4]

Nguy cơ[sửa | sửa mã nguồn]

Số ngựa Przewalski giảm mạnh sau năm 1945 và chỉ còn lại một nhóm nhỏ trong những năm tiếp theo.[5] Nguyên nhân của tình trạng này là săn bắn, hoạt động quân sự và áp lực sử dụng đất gia tăng. Ngoài ra, với số lượng ít ỏi ngựa Przewalski trong tự nhiên có thể dẫn đến giao phối cận huyết. Vào thế kỷ 20, loài ngựa này ở trên bờ vực tuyệt chủng do nạn săn bắt. Vào năm 1969, một nhà khoa học Mông Cổ đã nhìn thấy một con ngựa đực loại này ở sa mạc Gobi. Đây là lần cuối cùng con người nhìn thấy giống ngựa này trong tự nhiên. Ngựa hoang Przewalski đã bị cảnh báo tuyệt chủng từ 44 năm trước. Đến năm 2008 có khoảng 500 con ngựa thuộc loài này đang sống trong tự nhiên và 1.500 con sống trong các vườn thú và khu bảo tồn.

Ngày nay, ngựa Przewlski sống sót nhờ vào việc gây giống trong điều kiện nuôi nhốt. Hiện có khoảng 1.800 đến 2.000 con ngựa Przewalsi đang sinh sống tại vùng thảo nguyên Mông Cổ và các khu bảo tồn trên toàn thế giới. Hiện có tổng số 1.800 con ngựa Przewalski sống trên toàn thế giới, trong đó có rất nhiều con sống tại vườn thú Praha.[1] Khoảng 1/4 số ngựa này được thả vào tự nhiên hồi cuối năm 2011 nhờ thành công của các biện pháp nhân giống thuần chủng.

Tại Khu Bảo tồn Thiên nhiên Quốc gia Hồ Tây có 27 con ngựa Przewalski đang sinh sống chúng là kết quả của một quá trình dài nỗ lực nhân giống và bảo vệ của Khu bảo tồn kể từ năm 2010. Đặc biệt là việc một con ngựa hoang đầu tiên ra đời nhờ thụ tinh ống nghiệm. Vườn thú Praha, Cộng hòa Séc sẽ đưa thêm các con ngựa hoang Przewalski tới Mông Cổ. Đây là một nỗ lực nhằm đưa loài động vật này trở lại môi trường sống bản địa của chúng. 3 con ngựa cái và một con ngựa giống đã được đưa đến tỉnh Khomiin Tal, Mông Cổ và thêm 4 con ngựa nữa sẽ được đưa tới Mông Cổ.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â b Linh Chi (15 tháng 11 năm 2011). “Khôi phục giống ngựa hoang Przewalski”. Cổng thông tin điện tử Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn. Truy cập ngày 5 tháng 1 năm 2014. 
    Return of the Przewalski’s Horse to Mongolia Prague Zoo (tiếng Anh)
  2. ^ Gaddy, L. L. (2005). Biodiversity: Przewalski's Horse, Edna's Trillium, the Giant Squid, and Over 1.5 Million Other Species. tr. 6. 
  3. ^ “Vó ngựa hoang Przewalski lại vang rộn thảo nguyên”. KhoaHoc.com.vn. 8 tháng 7 năm 2013. Truy cập ngày 5 tháng 1 năm 2014. 
  4. ^ Lee Boyd, Katherine A. Houpt (1994). Przewalski's Horse: The History and Biology of an Endangered Species. SUNY Press. tr. bìa sau.  10-ISBN 0-7914-1889-8; 13-ISBN 978-0-7914-1889-5; OCLC 28256312
  5. ^ B.H. (28 tháng 1 năm 2003). “Báo động về số phận của ngựa hoang”. vnExpress - Tin nhanh Việt Nam. Truy cập ngày 5 tháng 1 năm 2014. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]