Nghĩa Bình

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Tỉnh Nghĩa Bình trên bản đồ hành chính Việt Nam năm 1976

Nghĩa Bình là tên một tỉnh cũ thuộc ven biển Trung Trung Bộ của Việt Nam. Tỉnh này được thành lập tháng 2 năm 1976 trên cơ sở hai tỉnh Quảng NgãiBình Định. Đến tháng 6 năm 1989, tỉnh lại được tách ra thành hai tỉnh.

Phía Bắc giáp tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng, phía Nam giáp tỉnh Phú Khánh, phía Đông giáp biển Đông, phía Tây giáp tỉnh Gia Lai - Kon Tum.

Đơn vị hành chính tỉnh (đến năm 1980) bao gồm: thị xã Quy Nhơn[1] (thủ phủ), thị xã Quảng Nghĩa và 15 huyện: Bình Sơn, Sơn Tịnh, Nghĩa Minh, Mộ Đức, Đức Phổ, Trà Bồng, Sơn Hà, Ba Tơ, Hoài Nhơn, Hoài Ân, Phù Mỹ, Phù Cát, An Nhơn, Tây Sơn, Phước Vân.

Năm 1981, chia thị xã Quảng Nghĩa thành thị xã Quảng Ngãi và huyện Tư Nghĩa; chia huyện Nghĩa Minh thành 2 huyện: Nghĩa HànhMinh Long; chia huyện Hoài Ân thành 2 huyện: Hoài Ân và An Lão; chia huyện Tây Sơn thành 2 huyện: Tây Sơn và Vĩnh Thạnh; chia huyện Phước Vân thành 2 huyện: Tuy PhướcVân Canh.

Năm 1986, chuyển thị xã Quy Nhơn thành thành phố Quy Nhơn.

Từ đó, đơn vị hành chính tỉnh bao gồm: thành phố Quy Nhơn (thủ phủ), thị xã Quảng Ngãi và 20 huyện: Bình Sơn, Sơn Tịnh, Tư Nghĩa, Nghĩa Hành, Mộ Đức, Đức Phổ, Trà Bồng, Sơn Hà, Minh Long, Ba Tơ, Hoài Nhơn, Hoài Ân, Phù Mỹ, Phù Cát, An Nhơn, Tây Sơn, Tuy Phước, An Lão, Vĩnh Thạnh, Vân Canh.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Nay là thành phố Quy Nhơn.