Nghĩa dũng quân tiến hành khúc

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
义勇军进行曲
義勇軍進行曲

Yìyǒngjūn Jìnxíngqǔ

Quốc ca của
Flag of the People's Republic of China.svg Trung Quốc
Flag of Hong Kong.svg Hồng Kông
Flag of Macau.svg Ma Cao

Tên khác Nghĩa dũng quân tiến hành khúc
English: March of the Volunteers
Lời Điền Hán, 1934
Nhạc Niếp Nhĩ, 1935
Được chấp nhận 1949 (Trung Hoa Đại lục)
1997 (Hồng Kông)
1999 (Ma Cao)
Đoạn nhạc mẫu

Nghĩa dũng quân tiến hành khúc (phồn thể: 義勇軍進行曲, giản thể: 义勇军进行曲; phanh âm: Yìyǒngjūn Jìnxíngqǔ) là quốc ca của nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa được nhà thơ và soạn giả ca kịch Điền Hán viết lời và Niếp Nhĩ phổ nhạc vào khoảng giữa giai đoạn Chiến tranh Trung-Nhật (1937-1945). Bài này thuộc thể loại hành khúc.

Nguồn gốc[sửa | sửa mã nguồn]

Điền Hán viết "Hành khúc nghĩa dũng quân" vào năm 1934 cho một vở kịch ông soạn cũng vào năm đó. Theo dân gian thì ông viết lời bài này trên một mẩu giấy thuốc lá sau khi bị bắt tại Thượng Hải và bị đưa vào nhà lao Quốc Dân Đảng năm 1935. Bài hát này sau khi được sửa lại đôi chút đã trở thành bài hát chủ đề trong bộ phim Phong vân nhi nữ do Công ty Điện ảnh Điện Thông (电通影片公司) Thượng Hải dàn dựng vào năm 1935. Bộ phim này thuật lại câu chuyện một nhà thơ tên là Tân Bạch Hoa đại diện cho tầng lớp trí thức của nước Trung Hoa cũ, đã gác lại ngòi bút sáng tác của mình, cầm súng xung phong ra mặt trận chống Nhật, xông pha trước quân thù. "Hành khúc nghĩa dũng quân" xuất hiện ở phần đầu và phần cuối của bộ phim này đã để lại ấn tượng sâu sắc cho đông đảo khán giả hồi đó. Không bao lâu nó liền trở thành chiến ca nổi tiếng của Trung Quốc trong thời kỳ kháng chiến chống Nhật. Bài hát này cũng được Pathé thuộc tập đoàn EMI phát hành trong một đĩa hát vào năm 1935.

Bài này lần đầu tiên được dùng làm quốc ca là trong một hội thảo quốc tế tổ chức tại Praha, Tiệp Khắc tháng 2 năm 1949. Vào thời gian đó Bắc Kinh vừa lọt vào tầm kiểm soát của những người cộng sản Trung Quốc. Lúc đó nổ ra một tranh luận xung quanh câu "Đất nước Trung Hoa đã gặp lúc hiểm nguy". Nhà sử học Quách Mạt Nhược liền đổi câu trên thành "Dân tộc Trung Quốc đã đến hồi giải phóng".

Người đầu tiên nêu đề nghị lấy bài "Hành khúc nghĩa dũng quân" làm quốc ca của nước Trung Hoa mới là Từ Bi Hồng, một họa sĩ nổi tiếng của Trung Quốc. Tháng 6 năm 1949, hội nghị trù bị thành lập nước Trung hoa mới của Hội nghị Hiệp thương Chính trị Nhân dân (gọi tắt là Chính Hiệp) Trung Quốc thảo luận việc quyết định quốc ca, nhiều đại biểu đưa ra ý kiến của mình, một số đại biểu bày tỏ nên kết nạp đề nghị của họa sĩ Từ Bi Hồng lấy bài "Hành khúc nghĩa dũng quân" làm quốc ca, nhưng hội nghị chưa đưa ra quyết định cuối cùng. Ngày 2 tháng 9 năm 1949, Mao Trạch Đông, Chu Ân Lai... đã đến nghe ý kiến của các đại biểu, ngày 25 tháng 9 năm 1949, tại Trung Nam Hải, Mao Trạch Đông và Chu Ân Lai lại tổ chức buổi tọa đàm hiệp thương về vấn đề quyết định quốc kỳ, quốc huy, quốc ca, cách tính năm và thủ đô của nước Trung Hoa mới, mời nhân sĩ các đảng phái và nhân sĩ giới văn hóa tham gia. Tổ 6 của hội nghị trù bị Chính Hiệp quyết định đề án lấy "Hành khúc nghĩa dũng quân" làm quốc ca và chính thức trình lên Hội nghị Hiệp thương Chính trị Nhân dân Trung Quốc xét duyệt.

Ngày 27 tháng 9 năm 1949, toàn thể đại biểu của hội nghị Chính Hiệp nhất trí thông qua, trước khi xét định quốc ca của nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa, lấy bài "Hành khúc nghĩa dũng quân" làm quốc ca. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều ý kiến không đồng ý đối với câu thứ ba. Khi đó Chu Ân Lai đưa ra đánh giá cuối cùng: "Trước mắt chúng ta vẫn còn kẻ thù đế quốc. Chúng ta càng tiến, kẻ thù sẽ càng tìm cách tấn công và phá hoại chúng ta. Liệu có thể nói là chúng ta sẽ không còn nguy hiểm không?" Quan điểm này được Mao Trạch Đông tán thành và vào ngày 27 tháng 9 năm 1949, bài này trở thành quốc ca tạm thời, chỉ vài ngày trước khi Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa được thành lập. Đến kỳ họp thứ nhất quốc hội Trung Quốc khóa 5 vào năm 1978, lại thông qua việc chính thức lấy bài "Hành khúc nghĩa dũng quân" làm quốc ca.

Sau Cách mạng văn hóa[sửa | sửa mã nguồn]

Trong thời kỳ Cách mạng văn hóa, Điền Hán bị bắt giam, và cũng vì thế mà bài "Hành khúc nghĩa dũng quân" cũng bị cấm hát; kết quả là trong giai đoạn đó bài "Đông phương hồng" được chọn làm quốc ca không chính thức.

"Hành khúc nghĩa dũng quân" được Đại hội Đại biểu Nhân dân Toàn quốc Trung Quốc khôi phục lại vào năm 1978, nhưng với lời khác hẳn; tuy vậy, lời ca mới không được thông dụng lắm và thậm chí gây nhầm lẫn [1]. Vào ngày 4 tháng 12 năm 1982, Đại hội Đại biểu Nhân dân Trung Quốc thống nhất chọn lại bản gốc năm 1935 của Điền Hán làm quốc ca chính thức. Điểm nổi bật trong lời hiện nay là không đề cập đến Đảng cộng sản Trung Quốc lẫn Mao Trạch Đông và việc quay lại lời ca cũ đánh dấu sự đi xuống của Hoa Quốc Phong và tệ sùng bái cá nhân đối với Mao cũng như uy thế đi lên của Đặng Tiểu Bình.

Đại hội Đại biểu Nhân dân Trung Quốc công nhận bài này là quốc ca chính thức của CHNDTH trong bản sửa đổi năm 2004 của Hiến pháp nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa. Phần quốc ca được đề cập ngay sau phần nói về quốc kỳ.

Mặc dù được lưu hành rộng rãi giữa các thành viên của Quốc Dân Đảng trong thời kỳ Chiến tranh Trung-Nhật (1937-1945), nhưng bài này đã bị cấm tại Đài Loan đến tận thập niên 1990.

Quốc ca này chính thức được cử hành tại Hồng Kông lần đầu tiên [2] vào năm 1997, và tại Macao năm 1999 sau khi hai lãnh thổ này được trao trả cho CHNDTH.

Lời (hiện nay và là lời gốc)[sửa | sửa mã nguồn]

Chữ Hán Pinyin Hán-Việt Dịch tiếng Việt

义勇军进行曲
起来!不愿做奴隶的人们!
把我们的血肉,筑成我们新的长城!
中华民族到了最危险的时候,
每个人被迫着发出最后的吼声。
起来!起来!起来!
我们万众一心,
冒着敌人的炮火,前进!
冒着敌人的炮火,前进!
前进!前进!进!

Yìyǒngjūn Jìnxíngqǔ
Qǐlái! Búyuàn zuò núlì de rénmen!
Bǎ wǒmen de xuèròu, zhùchéng wǒmen xīn de chángchéng!
Zhōnghuá mínzú dàoliǎo zuì wēixiǎn de shíhòu.
Měi ge rén bèipòzhe fāchū zuìhòu de hǒushēng.
Qǐlái! Qǐlái! Qǐlái!
Wǒmen wànzhòngyìxīn,
Màozhe dírén de pàohuǒ, qiánjìn!
Màozhe dírén de pàohuǒ, qiánjìn!
Qiánjìn! Qiánjìn! Jìn!

Nghĩa dũng quân tiến hành khúc
Khởi lai! Bất nguyện tố nô đãi đích nhân môn!
Bả ngã môn đích huyết nhục, trúc thành ngã môn tân đích trường thành!
Trung hoa dân tộc đáo liễu tối nguy hiểm đích thời hậu,
Mỗi cá nhân bí bách khán phát xuất tối hậu đích hống thanh.
Khởi lai! Khởi lai! Khởi lai!
Ngã môn vạn chúng nhất tâm,
Mạo khán địch nhân đích pháo hỏa, tiền tiến!
Mạo khán địch nhân đích pháo hỏa, tiền tiến!
Tiền tiến! Tiền tiến! Tiến!

Hành khúc quân tiến nghĩa dũng
Đứng lên! Những người không muốn làm nô lệ!
Với máu thịt chúng ta, hãy cùng nhau xây dựng Trường Thành mới!
Dân tộc Trung Hoa đã đến lúc hiểm nguy,
Mỗi người hãy cất lên tiếng thét.
Đứng lên! Đứng lên! Đứng lên!
Chúng ta muôn người như một,
Bất chấp đạn lửa quân thù, tiến lên!
Bất chấp đạn lửa quân thù, tiến lên!
Tiến lên! Tiến lên! Tiến!

Lời (1978-1982)[sửa | sửa mã nguồn]

Chữ Hán Pinyin Hán-Việt Dịch tiếng Việt

前进!各民族英雄的人民!
伟大的共产党领导我们继续长征。
万众一心奔向共产主义明天,
建设祖国保卫祖国英勇的斗争。
前进!前进!前进!
我们千秋万代
高举毛泽东旗帜,前进!
高举毛泽东旗帜,前进!
前进! 前进! 进!

Qiánjìn! Gè mínzǔ yīngxióng de rénmín,
Wěidà de gòngchǎndǎng lǐngdǎo wǒmen jìxù chángzhēng.
Wànzhòngyīxīn bēnxiàng gòngchǎnzhǔyì míngtiān,
Jiànshè zǔgúo bǎowèi zǔgúo yīngyǒng de dòuzhēng.
Qiánjìn! Qiánjìn! Qiánjìn!
Wǒmen qiānqīuwàndài
Gāojǔ Máo Zédōng qízhì, qiánjìn!
Gāojǔ Máo Zédōng qízhì, qiánjìn!
Qiánjìn! Qiánjìn! Jìn!

Tiền tiến! Các dân tộc anh hùng đích nhân dân!
Vĩ đại đích Cộng sản đảng lãnh đạo ngã môn kế tục Trường chinh.
Vạn chúng nhất tâm bôn hướng cộng sản chủ nghĩa minh thiên,
Kiến thiết Tổ quốc bảo vệ tổ quốc anh dũng đích đấu tranh.
Tiền tiến! Tiền tiến! Tiền tiến!
Ngã môn thiên thu vạn đại
Cao cử Mao Trạch Đông kỳ xí, tiền tiến!
Cao cử Mao Trạch Đông kỳ xí, tiền tiến!
Tiền tiến! Tiền tiến! Tiến!

Tiến lên! Nhân dân anh hùng các dân tộc!
Đảng Cộng sản vĩ đại lãnh đạo chúng ta tiếp bước Trường Chinh.
Muôn người một lòng hướng tới chủ nghĩa cộng sản tươi sáng,
Xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đấu tranh anh dũng.
Tiến lên! Tiến lên! Tiến lên!
Chúng ta còn mãi ngàn năm vạn thế hệ
Giương cao ngọn cờ Mao Trạch Đông, tiến lên!
Giương cao ngọn cờ Mao Trạch Đông, tiến lên!
Tiến lên! Tiến lên! Tiến!

Nghe[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]