Nghệ sĩ nhân dân (Việt Nam)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Nghệ sĩ nhân dân Việt Nam)
Bước tới: menu, tìm kiếm

Nghệ sĩ nhân dân (NSND) là danh hiệu cao quý nhất mà Nhà nước Việt Nam trao tặng cho những người hoạt động biểu diễn nghệ thuật. Danh hiệu này được trao tặng cho những nghệ sĩ trung thành với Tổ quốc, với chủ nghĩa xã hội, có tài năng xuất sắc, có cống hiến nhiều cho sự nghiệp cách mạng Việt Nam[1]. Danh hiệu này được trao cùng lúc với danh hiệu Nghệ sĩ ưu tú (NSƯT).

Từ đợt 1 năm 1984 đến đợt 6 năm 2007 thì đã có 191 nghệ sĩ được trao tặng danh hiệu này.

Mục lục

[sửa] Những đối tượng được trao tặng

Những người đang hoạt động nghệ thuật trong các đơn vị nhà nước như:

Người thuộc các đối tượng nêu trên nhưng do yêu cầu, nhiệm vụ được điều động sang làm công tác nghiên cứu, giảng dạy, quản lý... đúng lĩnh vực nghệ thuật đó.

Nghệ sĩ, nghệ nhân các bộ môn nghệ thuật biểu diễn truyền thống và các loại hình nghệ thuật khác không thuộc các đơn vị nghệ thuật chuyên nghiệp của Nhà nước, hoạt động biểu diễn nghệ thuật phục vụ nhu cầu xã hội.

[sửa] Tiêu chuẩn xét tặng

Theo quy định của Luật Thi đua Khen thưởng và các văn bản hướng dẫn thi hành thì:

Người được xét phải trung thành với Tổ quốc Việt Nam, có phẩm chất đạo đức và tài năng nghệ thuật, có tinh thần phục vụ nhân dân, được đồng nghiệp và nhân dân mến mộ.

Người được xét NSND thì phải có thời gian hoạt động nghệ thuật từ 20 năm trở lên (riêng đối với nghệ thuật xiếc từ 15 năm trở lên), đã được tặng danh hiệu NSƯT từ 5 năm trở lên, được tặng ít nhất 2 giải thưởng vàng hoặc bạc tại các liên hoan, hội diễn nghệ thuật cấp quốc gia, khu vực hoặc quốc tế và các hội văn học nghệ thuật Trung ương kể từ khi được phong tặng danh hiệu NSƯT. Người chỉ đạo nghệ thuật của đơn vị nghệ thuật được tính hai loại giải thưởng chính thức nêu trên của đơn vị vào tiêu chuẩn cá nhân.

Với giải thưởng tặng cho tập thể, thành tích được tính cho cá nhân nếu cá nhân đó là thành phần chính của tiết mục, chương trình nghệ thuật và bộ phim được giải. Nếu nghệ sĩ là nhạc công của các đơn vị nghệ thuật, tiêu chuẩn giải thưởng cá nhân được xem xét qua quá trình tham gia đóng góp vào các chương trình biểu diễn lớn hằng năm của đơn vị, vị trí đảm nhận những phần lĩnh tấu quan trọng có chất lượng trong dàn nhạc[2].

[sửa] Quy trình xét tặng

Quá trình xét tặng sẽ diễn ra theo 4 cấp:

  • Cấp đơn vị công tác
  • Cấp sở Văn hoá Thông tin hoặc Hội đồng Cục chuyên ngành (điện ảnh, nghệ thuật biểu diễn)
  • Cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và các bộ, ngành, Đài Tiếng nói Việt Nam, Đài Truyền hình Việt Nam.
  • Cấp quốc gia bao gồm hội đồng chuyên ngành (gồm 11 đến 13 thành viên là các nghệ sĩ, nhà quản lý có chuyên môn cao ở các lĩnh vực âm nhạc, sân khấu, múa, điện ảnh, phát thanh, truyền hình ) và hội đồng quốc gia.

Ở mỗi cấp sẽ hình thành các hội đồng xét tặng.

Nghệ sĩ thuộc đơn vị nghệ thuật Nhà nước đăng ký tại các đơn vị nghệ thuật đang công tác. Trường hợp nghệ sĩ không thuộc các đơn vị nghệ thuật chuyên nghiệp thì đăng ký với Sở Văn hoá Thông tin nơi thường trú. Những nghệ sĩ đã mất thì sẽ được xét truy tặng danh hiệu này.

[sửa] Tặng thưởng

  • Huy hiệu Nghệ sĩ nhân dân
  • Bằng chứng nhận của Chủ tịch nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
  • Tiền thưởng theo quy định của Chính phủ.

[sửa] Mẫu Huy hiệu Nghệ sĩ nhân dân

Huy hiệu Nghệ sĩ nhân dân gồm hai bộ phận:

  • Cuống huy hiệu: có viền ngoài màu vàng, nền trong màu đỏ, chất liệu bằng đồng đỏ mạ vàng hợp kim nico dầy 3 micron, có kích thước 28mm x 14mm.
  • Thân huy hiệu: hình sao tám cánh cách điệu, ở giữa là hình mặt nạ và hoa sen cách điệu, phía trên có dòng chữ "Nghệ sĩ Nhân dân" (màu đỏ), phía dưới là dải lụa vàng mang dòng chữ "Việt Nam" (màu đỏ); đường kính bằng 35mm; chất liệu bằng đồng đỏ mạ vàng hợp kim Nico dầy 3 micron[3].

[sửa] Tước danh hiệu

Danh hiệu sẽ bị tước nếu các cá nhân được tặng danh hiệu mà vi phạm pháp luật bị tòa án kết án tù. Ví dụ như trường hợp của nghệ sĩ kịch nói Mạnh Linh khi ông bị án tù[4].

[sửa] Các đợt trao tặng danh hiệu

Xem chi tiết Danh sách Nghệ sĩ nhân dân Việt Nam

Đã có 6 đợt trao tặng danh hiệu, kể từ đợt 1 năm 1984 đến đợt 6 năm 2007.

  • Đợt 1 (1984) - 40 nghệ sĩ
  • Đợt 2 (1988) - 13 nghệ sĩ
  • Đợt 3 (1993) - 39 nghệ sĩ
  • Đợt 4 (1997) - 38 nghệ sĩ
  • Đợt 5 (2001) - 22 nghệ sĩ
  • Đợt 6 (2007) - 39 nghệ sĩ trong đó 3 nghệ sĩ được truy tặng.

Trong đợt 6, đã có nhiều nghệ sĩ phản ứng cho rằng việc trao tặng danh hiệu lần này thiếu công bằng, nhất là với những nghệ sĩ thuộc lĩnh vực điện ảnh. Thậm chí có những nghệ sĩ đã nói rằng sẽ trả lại danh hiệu Nghệ sĩ ưu tú nếu không được xét duyệt như vợ chồng NSƯT Diệu Thuần - Phạm Quang Vĩnh, NSƯT Phương Thanh[5].

[sửa] Chú thích

  1. ^ Pháp lệnh quy định danh hiệu vinh dự Nhà nước để tặng cho các nghệ sĩ, nhà giáo, thầy thuốc
  2. ^ Đối tượng nào được xét tặng danh hiệu NSND, NSƯT? - Theo Quyết định số 166/2005/QĐ-TTG, do Phó Thủ tướng Phạm Gia Khiêm ký ngày 6-7-2005.
  3. ^ Theo Nghị định số 50/2006/NĐ-CP ngày 19 tháng 5 năm 2006 của Chính Phủ quy định mẫu Huân chương, Huy chương, Huy hiệu, Bằng Huân chương, Bằng Huy chương, Cờ Thi đua, Bằng khen, Giấy khen. Trích từ mục Nghệ sĩ nhân dân trên Giaithuong.vn
  4. ^ Nghệ sĩ hoạt động tự do cũng được xét tặng danh hiệu
  5. ^ Nhiều nghệ sĩ chưa được công nhận NSND và NSƯT

[sửa] Tham khảo

Công cụ cá nhân
Không gian tên

Biến thể
Tác vụ
Xem nhanh
Tương tác
Công cụ
In/xuất ra