Nghịch lý ông nội

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Nghịch lý ông nội là một vấn đề trong nghịch lý của du hành thời gian hay hiểu đơn giản là vấn đề không thể hiểu hoặc không có cách giải, lần đầu tiên được miêu tả (miêu tả đúng như khái niệm hiện giờ) bởi nhà khoa học giả tưởng René Barjavel trong quyển sách Le Voyageur Imprudent (The Imprudent Traveller) xuất bản năm 1943.[1] Tuy nhiên, những vấn đề tương tự (thậm chí còn phức tạp hơn) đã được miêu tả sớm hơn, ví dụ điển hình tiểu thuyết "By His Bootstraps" của Robert A. Heinlein. Điều nghịch lý (vô lý) ở đây là: Có một người đàn ông du hành thời gian về quá khứ và giết ông nội mình trước khi ông mình cưới bà nội. Kết quả là cha của anh ta sẽ không được sinh ra, điều đó dẫn tới người đàn ông đó sẽ không bao giờ được ra đời thì sao anh có thể du hành về quá khứ. Nhưng nếu anh không về quá khứ để giết ông nội mình thì ông nội anh phải còn sống và điều đó nghĩa là anh vẫn được ra đời và có thể vượt thời gian để giết ông nội mình. Hai tình trạng trên đã phủ nhận sự tồn tại của cả hai trường hợp, đây là một loại của logic nghịch lý.

Mặc dù tên lý thuyết này là nghịch lý ông nội, nó không nói riêng về sự không thể sinh ra đời của một ai đó. Đúng hơn thì khái niệm này bao gồm bất cứ những hành động nào làm nên sự không thể vượt thời gian về quá khứ từ lúc đầu. Tên nghịch lý ông nội là tên thông thường nhất được dùng để diễn tả hiện tượng nghịch lý du hành thời gian. Một ví dụ nữa là sử dụng một kiến thức khoa học của nhà khoa học A để tạo ra cỗ máy thời gian rồi sử dụng nó đi về quá khứ rồi giết khoa học A, nếu khoa học A bị giết trước khi phát minh ra kiến thức khoa học đó thì cỗ máy thời gian cũng sẽ không hề được tồn tại. Thuyết nghịch lý tương tự được biết đến (trong triết học) như là autoinfanticide (tạm dịch là "em bé tự sát"): Nói về trở về thời gian và giết chính mình khi còn là em bé.[2]

Lý thuyết ông nội nghịch lý là một minh chứng bác bỏ khả năng du hành thời gian về quá khứ. Tuy nhiên, đã có một số phương pháp dùng để giải mã câu đố này đã được công bố, như là lý thuyết thời gian bất khả đổi nghĩa là tất cả mọi thứ trong thế gian đều đã sắp đặt không ai có thể thay đổi gì hết hoặc là khái niệm vũ trụ là một khoảng thời gian và không gian song song.[3] Ví dụ như là không-thời gian (hay còn nói là thế giới) mà người đó được sinh ra khác biệt với thế giới mà người đó trở về quá khứ để giết ông nội mình hoặc có thể người đó vì muốn giết ông nội mình nhưng đã vô tình cứu ông thay vì giết được ông, điều đó nghĩa là ông nội anh vẫn còn sống và anh vẫn được ra đời để mà sau này trở về cứu ông nội mình.

Một nghịch lý có liên quan là Nghịch lý Hitler hoặc Nghịch lý vụ ám sát Hitler.[4] Nghịch lý Hitler này được thấy trong các thể loại khoa học giả tưởng, khi một người hùng vai chính du hành về quá khứ để giết chết Hitler trước khi Hitler tạo nên chiến tranh thế giới hai. Nếu như chiến tranh thế giới thứ hai chưa từng xảy ra thì lý do quay về quá khứ để giết Hitler cũng sẽ không hề tồn tại.[5] Thêm vào đó, ảnh hưởng của sự tồn tại của Hitler rất to lớn và hầu như sẽ ảnh hưởng đến tất cả những người sinh sau thế chiến thứ hai. Do đó, nghịch lý ông nội cũng có thể được áp dụng trong nghịch lý Hitler vì thế chiến thứ hai ảnh hưởng đến sự ra đời của những người sinh sau thế chiến thứ hai.[6]

Lý giải bằng lý thuyết trong khoa học[sửa | sửa mã nguồn]

Lý thuyết bất biến hay (tự phù hợp)-Novikov[sửa | sửa mã nguồn]

Xem Lý thuyết tự phù hợp-NovikovKip S. Thorne để có thể có cái nhìn làm sao mà du hành thời gian có thể xảy ra mà không làm nên sự nghịch lý. Dựa vào lý thuyết nào, tất cả những thời gian có thể là bất biến, nghĩa là những gì các nhà du hành thời gian làm trong khi du hành về quá khứ là một phần của lịch sử từ bấy lâu nay. Người đó sẽ không bao giờ có thể cản chính mình để đi chuyến đi ngược thời gian để làm chuyện tạo nên lịch sử chúng ta hiện biết. Hiểu theo nghĩa đơn giản là thiên mệnh (khái niệm) (hay số phận, tiếng anh Determinism), là những việc mà đã có một năng lực nào đó sắp đặt sẵn để hình thành nên thế giới của chúng ta sống. Nó gây mâu thuẫn với định lý tự do, nghĩa là không theo quy định của bất cứ năng lực nào. Những lời giải thích này nói lên nếu du hành thời gian có thể, thì những hành động sẽ là quyết định (hoặc số phận) bởi lịch sử.

Đa vũ trụ[sửa | sửa mã nguồn]

Khi đa vũ trụ tồn tại có nghĩa mọi thứ một người nào đó làm khi du hành về quá khứ không hề ảnh hưởng tới tương lai của người đó. Nếu du hành thời gian có thể, thì nếu thuyết đa vũ trụ đúng thì nó sẽ trở thành vũ trụ song song. Nhiều thế giới khác nhau, là một loại của đa vũ trụ, nghĩa là bất cứ mọi chuyện có thể diễn ra trong mỗi giây phút điều tách ra thành một thế giới mới, đã nói giải thích là bất cứ sự kiện ngẫu nhiên nào thực sự diễn ra với tỷ lệ thấp hơn 0 sẽ diễn ra ở những thế giới khác, nghĩa là lịch sử lúc nào cũng thay đổi đến một nhánh lịch sử khác. Nhà vật lý David Deutsch đã phản đối nếu du hành ngược thời gian là có thể, thì bất cứ hậu quả (hoặc kết quả) mà người du hành thời gian làm sẽ dẫn tới một thế giới khác không dính dáng gì tới thế giới mà anh ấy sống (nếu nói theo nghĩa thời gian là tương lai, vì anh ta đến từ tương lai mà).[7] Xêm thêm quantum suicide and immortality.

Ví dụ: Nếu mà cháu nội (tên A) đi ngược thời gian về giết ông nội mình thì. Người ông nội đã chết chỉ chết trong thế giới đó nhưng vẫn sống trong thế giới mà A sống. Từ lúc A về giết ông nội mình trong quá khứ, nó tách rời thế giới trong quá khứ ra khỏi thế giới trong tương lai. Nghĩa là trên nguyên lý thì đó là quá khứ nhưng vì A đã thay đổi nó, nó trở thành một nhánh khác (hiểu tạm là thế giới khác). Có thể hiểu như là hai thế giới hoàn toàn khác biệt với nhau. Một thế giới ông nội A vẫn sống hoặc chết vì già hay bệnh, còn một thế giới thì ông nội A bị A giết và thế giới đó bố A và A không hề tồn tại.

Ví dụ: cho nhiều thế giới khác nhau: Một người đang tính đi tắm hay đi chơi. Anh ta quyết định đi tắm nhưng thực ra ở một thế giới khác anh ta quyết định đi chơi. Hiểu tạm như từng giây xảy ra điều tạo ra một thế giới mới. Sau khi anh ta đi tắm, anh ta suy nghĩ đi bơi hay đi xe đạp. Thì sẽ tách thành hai thế giới, một thế giới là anh đi bơi và một thế giới là anh đi xe đạp. Trong thế giới anh quyết định chơi, sau khi đi chơi. Anh ta sẽ suy nghĩ nên đi leo núi hay đi xem phim, thì sẽ xảy ra hiện tượng hai thế giới tách ra, mỗi thế giới anh điều làm những điều khác nhau. Như vậy đã có 4 thế giới hoàn toàn khác nhau. Trên thực tế nếu điều này xảy ra (dĩ nhiên chúng ta điều không hề biết tới những thế giới khác) thì có thể vô tận thế giới khác biệt được tạo ra trong một ngày từ những sự lựa chọn vì trong mỗi giây bạn điều có thể làm vô tận điều.(đọc kĩ hơn đây)

Lý giải bằng lý thuyết trong khoa học giả tưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Là nhưng lý thuyết nằm trong các thể loại khoa học giả tưởng phim, tiểu thuyết... Nói về nghịch lý thời gian.

Vũ trụ song song[sửa | sửa mã nguồn]

Những ý kiến nhằm ngăn chặn sự nghịch lý xảy ra khi một nhà du hành thời gian làm trong quá khứ không hề ảnh hưởng tới lịch sử mà chúng ta biết ngày nay, nó đã được nêu ra ở trên trong phần khoa học. Nó rất phổ biến trong khoa học giả tưởng - xem Thay đổi lịch sử (giả tưởng), du hành thời gian nghĩa là sẽ tạo ra một nhánh lịch sử khác.

Hành động hạn chế[sửa | sửa mã nguồn]

Một cách giải khác là, một ví dụ điển hình là lý thuyết bất biến-novikov, nếu một ai đó trở về quá khứ, thì luật tự nhiên (hoặc một số năng lực khác) sẽ cấm không cho nhà du hành thời gian làm những việc mà kết quả sẽ làm thay đổi lịch sử. Ví dụ như đứa cháu nội tên A khi về giết ông nội mình. A sẽ bắn thụt, hoặc súng bị nghẹt hoặc chỉ làm thương được ông nội của mình chứ không hoàn toàn giết được ông, hoặc một số sự kiện khác xảy ra để ngăn chặn A thành công trong việc giết ông nội mình (vì nếu A thành công thì nó sẽ tạo ra nghịch lý). Không một hành động nào của A sẽ thành công, có thể ví như “không may mắn" hoặc sự tình cờ ngẫu nhiên xảy ra nhằm ngăn chặn hậu quả mà nhà du hành thời gian gây ra. Nói chung, nhà du hành thời gian sẽ không thể nào thay đổi lịch sử. Thường thường trong khoa học giả tưởng, nhà du hành thời gian không thất bại trong việc ngăn chặn hành động mà nhà du hành thời gian muốn ngăn chặn; nhà du hành thời gian còn là một phần của sự kiện đó (nghĩa là những việc du hành thời gian làm sẽ góp phần tạo nên lịch sử chúng ta biết ngày nay) (xem nghịch lý số mệnh), thường thường là do sự ngẫu nhiên.

Lý thuyết này dẫn tới sự quan tâm về vấn đề liệu sự tự nguyện có tồn tại hay không (nghĩa là những việc do người sắp đặt) (trong mô hình mẫu, tự nguyện có thể là ảo tưởng, hoặc cùng lắm có giới hạn). Lý thuyết còn khẳng định sự trùng hợp ngẫu nhiên sẽ là bất biến (nghĩa là lịch sử chúng ta được tạo ra và sắp đặt sẵn bởi một quyền lực nào đó như đấng tạo hóa): Nó nói là không điều gì có thể làm thay đổi kết quả, ngược lại một số lý thuyết nêu ra các sự kiện có thể không bất biến, cho dù sự khởi đầu của sự kiện đó sẽ không có kết quả hay hậu quả.

Lý thuyết có quan hệ rất gần nhưng khái niệm đó nói rằng thời gian sẽ phục hồi nào như cũ theo thời gian. Ví dụ như một nhà du hành thời gian ném một cục đá vô một cái hồ lớn; sẽ xuất hiện những gợn sóng, nhưng sẽ chẳng mấy chốc lặng xuống (điều này nói lên những hành động của nhà du hành thời gian ảnh hưởng ban đầu như theo thời gian sẽ lặng xuống, vì thế lịch sử sẽ trở về như cũ). Một ví dụ nữa, nhà du hành vũ trụ ám sát một nhà lãnh đạo chính trị nào đó đã gây lên một thảm họa chiến tranh, nhưng không vì thế mà chiến tranh không xảy ra, những người dưới quyền ông sẽ tiếp tục lấy cớ khác, như cớ ông bị ám sát để tiến hành chiến tranh (ví dụ này nêu lên dùng nhà du hành thời gian đã gây ra sự khác biệt nhưng không hoàn toàn thay đổi lịch sử). Hoặc nhà du hành vũ trụ ngăn chặn một vụ tông xe (vụ tông xe đáng lí đã xảy ra trong quá khứ) để cứu người yêu nhưng người được cứu (đáng lí đã chết nhưng vì nhà du hành vũ trụ về quá khứ làm thay đổi) sẽ chết theo cách khác và không cách nào ngăn chặn được, nói chung số phận đã định sẽ phải chết để hòa hợp với dòng lịch sử. Bộ phim năm 2002 là một ví dụ “cỗ máy thời gian (phim), nội dung là nhân vật chính tạo nên một cỗ máy thời gian nhằm quay lại quá khứ để cứu bạn gái mình đã bị giết bởi tên cướp (vì nguyên nhân anh tạo ra cỗ máy thời gian vì bạn gái mình bị giết, nếu bạn gái anh không hề bị giết thì anh sẽ không bao giờ tạo ra cỗ máy thời gian). Khi cứu được cô thì cô lại bị chết bởi vụ tông xe. Trong một số sự kiện nó chỉ xảy ra khi nguyên nhân dẫn tới sự du hành thời gian không được thay đổi, nghĩa là dòng lịch sử sẽ tự hồi phục như cách này và các vũ trụ khác sẽ tự hồi phục nhưng không thể khi sự thay đổi quá lớn. Vấn đề này còn được giải thích bởi bộ phim Doctor Who và game nhập cảnh Doctor Who RPG, nó thể hiện thời gian giống như dòng suối, bạn có thể đập, đổi hướng, ngăn chặn nó nhưng cuối cùng nó cũng trở về như cũ sau thời gian bị cản trở.

Nó có thể không được hợp lí, nếu như nhà du hành thời gian thay đổi quá khứ hoặc ngăn chặn tương lai mà người ấy nhớ, như trở về quá khứ để thuyết phục một nhà họa sĩ—người mà có duy nhất một tác phẩm rất nổi tiếng—để giấu tất cả những bức họa với mục đích bảo vệ nó. Nếu anh ta trở về thời gian của anh ta lại (nghĩa là tương lai), anh ta khám phá ra những bức họa này đã trở thành nổi tiếng. Anh ta nhận ra anh đã thay đổi quá khứ. Hay hoặc, anh ta trở về tương lai và nhớ những gì mà anh ta đã nhớ, ngoại trừ một tuần sau khi anh ta trở về, các tác phẩm được tìm thấy. Khi anh ta quay về quá khứ và đã tự hỏi. Những tác phẩm có bị phá hủy không? Anh có giữ gìn được nó không? Hoặc sự biến mất của nó là do tên họa sĩ đó giấu, và vấn đề những tác phẩm đã bị giấu và phải mất nhiều thời gian để kiếm nó. Điều gì sẽ thật sự xuất hiện trong suy nghĩ của anh?

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Barjavel, René (1943). Le voyageur imprudent ("The imprudent traveller"). ; actually, the book refers to an ancestor of the time traveller not his grandfather.
  2. ^ Horwich, Paul (1987). Asymmetries in Time. Cambridge, MIT Press. tr. 116. 
  3. ^ See also Alfred Bester, The Men Who Murdered Mohammed, published in 1958, just the year following Everett's Ph.D thesis
  4. ^ Eugenia Williamson (6 tháng 4 năm 2013). “Book review : Life after Life’ by Kate Atkinson”. The Boston Globe. Truy cập ngày 9 tháng 8 năm 2013. “Sự viễn tưởng ám sát Hitlet có sự thu hút rất lớn và nó đã trở thành một thể loại con của khoa học giả tưởng. Thường thì khi nhà du hành thời gian quay lại quá khứ để giết Hitler thì sẽ tạo nên những hậu quả không thể lường trước được.” 
  5. ^ Brennan, J. (2002). Time Travel: A New Perspective. Llewellyn Publications. tr. 23. ISBN 9781567180855. “A variation on the grandfather paradox . . . is the Hitler paradox. In this one you travel back in time to murder Hitler before he starts the Second World War, thus saving millions of lives. But if you murder Hitler in, say, 1938, then the Second World War will never come about and you will have no reason to travel back in time to murder Hitler!” 
  6. ^ Esther Inglis-Arkell (2012). “Are we running out of time to kill Hitler via time travel?”. io9. Truy cập ngày 12 tháng 8 năm 2013. 
  7. ^ Deutsch, David (1991). “Quantum mechanics near closed timelike curves”. Physical Review D 44: 3197–3217. doi:10.1103/PhysRevD.44.3197.