Ngu Cơ

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Ngu Cơ

Ngu Cơ 虞姬, có tên là Ngu Diệu Dặc 虞妙弋 (?-202 TCN), là vợ Tây Sở Bá Vương Hạng Vũ.

Biệt Bá Vương[sửa | sửa mã nguồn]

Ngu Cơ thường xuyên đi cùng Hạng Vũ ra chiến trận, sát cánh cùng Sở Bá vương trong suốt nhiều năm chinh chiến. Đoạn tiễn biệt giữa hai người trong thành Cai Hạ là một đoạn bi tráng rất nổi tiếng trong lịch sử Trung Quốc được Sử ký của Tư Mã Thiên nhắc tới.

Hạng Vũ và Lưu Bang vốn đã giảng hoà ở Hồng Câu để chia đôi thiên hạ. Nhưng sau đó Lưu Bang bội ước đánh úp Hạng vương khiến Hạng vương phải chạy vào thành Cai Hạ.

Hạng vương đóng quân ở trong thành Cai Hạ, binh ít, lương hết. Quân Hán và quân chư hầu bổ vây mấy vòng. Đang đêm, Hạng vương thức dậy nghe quân Hán ở bốn mặt đều hát giọng Sở, Hạng vương kinh hoàng, nói:

Hán đã lấy được Sở rồi sao? Sao mà người Sở lại đông như thế?

Đêm hôm đó Hạng vương uống rượu trong trướng cùng Ngu Cơ. Hạng vương đau đớn cảm khái làm bài thơ, được đời sau gọi là bài "Cai Hạ ca":

Lực bạt sơn hề, khí cái thế,
Thời bất lợi hề, Truy bất thệ
Truy bất thệ hề khả nại hà,
Ngu hề, Ngu hề nại nhược hà.

Dịch:

Sức dời núi, khí trùm trời,
Ô Truy chùn bước bởi thời không may!
Ngựa sao chùn bước thế này?
Ngu Cơ, biết tính sao đây hỡi nàng?

Hạng vương ca mấy lần, Ngu Cơ múa kiếm, hát hòa theo, lời ca rằng:

Hán binh dĩ lược địa,
Tứ diện Sở ca thanh.
Trượng phu ý khí tận,
Tiện thiếp hà liêu sinh.

Dịch:

Quân Hán lấy hết đất,
Khúc Sở vang bốn bề.
Trượng phu chí lớn cạn,
Tiện thiếp sống làm chi.

Rồi Ngu Cơ lấy gươm tự vẫn để tránh làm vướng bận Hạng Vũ. Hạng Vương thấy Ngu Cơ chết, khóc chảy nước mắt, tả hữu đều khóc, không ai có thể ngẩng lên nhìn[1]. Sau đó Hạng Vũ chọn 28 kỵ binh trung thành, liều chết phá vòng vây của quân Hán vượt ra ngoài. Chạy đến sông Ô Giang thì cùng đường. Tự thấy không còn mặt mũi nào qua sông về Giang Đông tái dựng cơ đồ, đành tự vẫn.

Tương truyền nơi máu bà đổ xuống mọc lên một thứ cỏ hễ có rót rượu gần bên thì cỏ múa lả lướt như Ngu Cơ trong tiệc rượu của Hạng Vũ. Người ta gọi cỏ ấy là "Ngu mỹ nhân thảo". Lại có thuyết cho rằng hương hồn bà không tan, hóa thành 2 khóm cỏ trên mộ, ngày đêm cứ quấn quít vào nhau, người ta gọi là Cỏ ngu.

Mối tình của Ngu Cơ và Hạng Vũ được đời sau truyền tụng và ca ngợi. Cảnh Hạng Vũ vĩnh biệt Ngu Cơ trước khi xuất trận lần cuối được đời sau diễn thành vở Kinh kịch nổi tiếng Bá Vương Biệt Cơ.

Phần mộ và nơi thờ[sửa | sửa mã nguồn]

Hiện có nhiều giả thuyết về phần mộ Ngu Cơ và nhiều nơi tại Trung Quốc có mộ Ngu Cơ[2]. Các nhà nghiên cứu Trung Quốc tổng kết có các địa danh về phần mộ và nơi thờ bà trong khu vực tỉnh Giang Tô, Trung Quốc như sau:

  • Huyện Định Viễn, tỉnh Giang Tô. Căn cứ vào ghi chép của Sử ký thì mộ Ngu Cơ tại đây. Ngày nay không còn dấu tích gì về mộ bà tại huyện này[3].
  • Huyện Linh Bích, tỉnh Giang Tô. Căn cứ theo ghi chép của sách Dư địa chí đời nhà Thanh thì ngôi mộ ở huyện này là mộ Ngu Cơ. Ngày nay vẫn còn ngôi mộ có bia ghi ba chữ "Nữ anh hùng"[3].
  • Núi Cài Hoa: nơi đây có miếu thờ Ngu Cơ. Tương truyền sau khi bà tự vẫn, Hạng Vũ lấy đầu bà treo lên cổ ngựa rồi phá vòng vây chạy ra. Lên một ngọn núi thì bông hoa lan mà bà cài trên tóc khi còn sống bị rơi, nên ngọn núi được gọi là Núi Cài hoa. Sau này nhân dân lập miếu thờ bà. Hằng năm đến ngày 3 tháng 3 âm lịch, người ta đến làm lễ cầu con tại miếu này[4].
  • Thôn Hoa Lan, huyện Giang Phổ, tỉnh Giang Tô. Theo thuyết này, Ngu Cơ không tự vẫn trong thành Cai Hạ mà cùng Hạng Vũ phá vây chạy thoát ra ngoài. Đến một đồng cỏ, bà đánh rơi cánh hoa lan cài lên tóc, từ đó tại đây mọc ra rất nhiều lan, gọi là thôn Hoa Lan. Chạy được một đoạn, Ngu Cơ tự biết không thể thoát sự truy đuổi của quân Hán nên đâm cổ tự vẫn ở phía tây một cây cầu nhỏ. Hạng Vũ vội vã mang chôn bà trong một cánh đồng hoang rồi chạy tiếp. Cây cầu gần chỗ bà tự vẫn gọi là cầu Thất Cơ (mất Ngu Cơ). Ngày nay hai địa danh thôn Hoa Lan và cầu Thất Cơ ở huyện Giang Phổ vẫn còn[5].

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Sử ký Tư Mã Thiên, thiên:
    • Hạng Vũ bản kỷ
  • Quách Vĩ Kiện, Đại An (2007), Bí ẩn về lịch sử nhân loại, NXB Hà Nội

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Sử ký, Hạng Vũ bản kỷ
  2. ^ Quách Vĩ Kiện, Đại An, sách đã dẫn, tr 151
  3. ^ a ă Quách Vĩ Kiện, Đại An, sách đã dẫn, tr 152
  4. ^ Quách Vĩ Kiện, Đại An, sách đã dẫn, tr 153
  5. ^ Quách Vĩ Kiện, Đại An, sách đã dẫn, tr 154