Nguyên Vũ Tông

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Nguyên Vũ Tông Khúc Luật Hãn
元武宗 曲律汗
Hoàng đế Trung Hoa (chi tiết...)
Chân dung Nguyên Vũ Tông.
Chân dung Nguyên Vũ Tông.
Hoàng đế nhà Nguyên
Trị vì  13071311
Đăng quang 21/6/1307 tại Thượng Đô
Tiền nhiệm Nguyên Thành Tông
Kế nhiệm Nguyên Nhân Tông
Khả Hãn Mông Cổ (danh nghĩa)
Tại vị 1307 - 1311
Tiền nhiệm Hoàn Trạch Đốc hãn
Kế nhiệm Phổ Nhan Đốc hãn
Thê thiếp Xem văn bản
Hậu duệ
Xem văn bản
Tên đầy đủ
Bột Nhi Chỉ Cân Hải Sơn (孛兒只斤海山, Borjigin Qayshan)
Niên hiệu
Chí Đại (至大)
Thụy hiệu Nhân Huệ Tuyên Hiếu Hoàng Đế (仁惠宣孝皇帝)
Miếu hiệu Vũ Tông
Hoàng tộc Nhà Borjigin (Боржигин)
Thân phụ Đáp Lạt Ma Bát Lạt (Darmabala)
Thân mẫu Đáp Kỷ (Dagi)
Sinh 9/7/1281 (Âm lịch)[1]
Mất 1311
An táng Khởi Liễn cốc

Nguyên Vũ Tông (元武宗, 1281-1311), trị vì từ năm 1307 - 1311, còn gọi là Khúc Luật Hãn, là vị hoàng đế thứ 3 của nhà Nguyên, đồng thời là vị Khả hãn thứ 6 của Mông Cổ. Ông thuộc dòng họ hoàng gia nhà Nguyên là Bột Nhi Chỉ Cân, tên là Hải Sơn(chữ Hán: 海山; Tiếng Mông Cổ: ᠬᠠᠶᠢᠰᠠᠩ Qayshan, Хайсан). Khi băng hà, ông được truy miếu hiệu là Vũ Tông, thụy hiệu là Nhân Huệ Tuyên Hiếu hoàng đế, thụy hiệu Mông Cổ là Khúc Luật hãn(Külüg Hãn, ᠬᠥᠯᠥᠭ ᠬᠠᠭᠠᠨ хүлэг хаан).

Mục lục

Gia thế [sửa]

Ông là con trai thứ hai của Đáp Lạt Ma Bát Lạt (Darmabala)[2], mẹ là Đáp Kỷ (Dagi), là người của tộc Hoằng Cát Lạt (Khunggirad) có ảnh hưởng trong triều đình. Em trai của ông tên là Bột Nhi Chỉ Cân Ái Dục Lê Bạt Lực Bát Đạt sau này là vua Nguyên Nhân Tông. Ông nội ông là thái tử Chân Kim. Cụ nội là Nguyên Thế Tổ Hốt Tất Liệt.

Sự nghiệp [sửa]

Năm 1299, ông được cử sang đất Mông Cổ làm tướng quân thống lĩnh kỵ binh Mông Cổ bảo vệ phía tây lãnh thổ nhà Nguyên, chống lại cuộc xâm lăng của Hải Đô (Kaidu) và cuộc tranh giành của các hoàng tử nhà Nguyên tại vùng Trung Á. Năm 1301, ông mở trận quyết chiến với Hải Đô. Kết quả là Hải Đô thua và chết trận, bên của Hải Sơn tuy thắng nhưng chính ông bị thương tích và quân đội ông cũng bị thiệt hại không nhẹ. Nhờ chiến công trong quân sự, ông được vua Nguyên Thành Tông phong là Hoài Ninh vương vào năm 1304.

Trong thời gian ông sống là thời kỳ đầy biến động, nhà Nguyên đầy rẫy sự tranh chấp nội bộ, và các hoàng gia đấu đá diệt lẫn nhau chỉ để giành lấy ngai vàng. Trước đây, Mông Cổ luôn chọn những người có tài năng trong hoàng tộc Bột Nhi Chỉ Cân lên làm thủ lĩnh (vua), không cần biết người đó là con hay cháu vua tiền nhiệm, quan hệ họ hàng thân hay sơ, chỉ cần có tài là được lên ngôi. Nhưng đến khi Hốt Tất Liệt lập ra nhà Nguyên, nuốt trọn Trung Nguyên, chiếm nhiều nơi, giành lấy một vùng lãnh thổ lớn nhất thế giới, cho rằng công đó chỉ thuộc về mình, nên ông ta quyết định theo chế độ "truyền tử" của Trung Hoa, chỉ nhường ngôi cho con thôi. Điều đó khiến các hoàng thân quốc thích khác cùng những cố đại thần trong triều bất bình, đặc biệt là những người cho rằng mình có đủ tư cách lên ngôi lại càng thấy ấm ức hơn. Chính vì vậy để tranh ngôi báu, hoàng tộc nhà Nguyên suốt thời gian dài từ sau vua Nguyên Thành Tông trở về sau, các cuộc đấu đá tiêu diệt lẫn nhau xảy ra liên miên trong nội bộ hoàng gia. Lúc bấy giờ, vua Thành Tông không có con trai nối dõi, nên tất nhiên phải chọn một người tài năng trong hoàng tộc để lập lên ngôi. Hải Sơn - tức Vũ Tông - là người có đủ tư cách để làm ứng cử viên để được lên ngôi sau khi Thành Tông băng hà.

Lên ngôi Hoàng đế [sửa]

Năm 1307, Nguyên Thành Tông băng hà, linh hài được an táng tại Karakorum, để lại người vợ là hoàng hậu Bốc Lỗ Hãn (Buluqhan, người của bộ lạc Bá Nhạc Ngô (Bayaud). Bà hoàng hậu này tích cực muốn đưa An Tây vương A Nan Đáp (Ananda)[3] lên ngôi vua. Bà liên kết với nhiều cựu thần trong triều, để bà lên làm thái hậu tạm chấp chính, và bước sau đó sẽ đưa A Nan Đáp lên ngôi hoàng đế.

Lúc đó, 2 người chắt của Sát Hợp ĐàiHarghasunTura, cùng với Yakhutu là người của Đà Lôi đấu tranh chống lại thế lực của Thái hậu, nhằm muốn đưa con trai của Darmabala là Hải Sơn lên ngôi. Họ đã ra tay trước, cho quân xâm nhập vào cung giữ Thái hậu và A Nan Đáp lại, rồi cho người đón mẹ của Hải Sơn là Đáp Kỷ đến Hà Nam. Sau đó, Hải Sơn muốn đăng quang ngay, bèn làm lễ tại Thượng Đô, có 3 vạn quân Nguyên hộ tống bảo vệ. Ngay lúc ấy, Hải Sơn đăng cơ hoàng đế, tức là vua Nguyên Vũ Tông. Lễ đăng quang làm hoàng đế của Vũ Tông vào ngày 21/6/1307. Sự lên ngôi này của ông là nhờ có sự giúp đỡ của em trai ông - Ái Dục Lê Bạt Lực Bát Đạt.

Trị vì [sửa]

Khi lên ngôi, Vũ Tông truy phong cha mình là Thuận Tông, phong cho mẹ là Hưng Thánh hoàng thái hậu và phong Ái Dục Lê Bạt Lực Bát Đạt làm Thái đệ - người sẽ nối ngôi sau khi hoàng đế mất ("tử" là con, "đệ" là em). Ông còn cho xây dựng nhiều ngôi chùa lớn tại Đại Đô và Thượng Đô. Với những hoàng tử khác, Vũ Tông đã khen thưởng tràn lan, ông ban chức tước và tiền bạc cho họ, tìm cách an trí các hoàng tử để lấy lòng họ khiến họ khỏi làm loạn nhằm củng cố địa vị và thời gian cai trị của mình. Tuy nhiên, Vũ Tông đã làm mọi người thất vọng vì Vũ Tông là ông vua rất xa xỉ, dâm dật, ưa tổ chức lễ tiệc phung phí, không cần thiết. Đặc biệt ông rất sùng tín Phật giáo Lạt Ma.

Năm 1311, Nguyên Vũ Tông - vị hoàng đế hoang phí xa xỉ và chơi bời vô độ, không một chút công lao đã qua đời trong sự căm giận tột độ của hoàng tộc và dân chúng.

Gia đình [sửa]

  • Vợ:
    • Tuyên Từ Huệ Thánh hoàng hậu, tên là Chân Ca, người của bộ lạc Hoằng Cát Lạt.
    • Tốc Ca Thất Lý hoàng hậu, em họ Chân Ca.
    • Phi: Diệc Khất Liệt thị, con gái của công chúa Nô Ngột Luân. Mẹ đẻ của Nguyên Minh Tông. Năm Thiên Lịch thứ 2 truy thụy là Nhân Hiến Chương Thánh hoàng hậu.
    • Phi: Đường Ngột thị, mẹ đẻ của Nguyên Văn Tông. Năm Thiên Lịch thứ 2 truy thụy là Văn Hiến Chiêu thánh hoàng hậu.
  • Con:

Ghi chú [sửa]

  1. ^ Nguyên sử, quyển 22
  2. ^ Nguyên sử, quyển 115 - Liệt truyện 2: Thuận Tông (Đáp Lạt Ma Bát Lạt), trích dẫn: 子三人:長曰阿木哥,封魏王...妃所生者曰海山,是為武宗;曰愛育黎拔力八達,是為仁宗 (Có ba con trai. Con trưởng là A Mộc Ca, phong Ngụy vương...Phi sinh con trai là Hải Sơn, tức Vũ Tông, Ái Dục Lê Bạt Lực Bát Đạt, tức Nhân Tông.)
  3. ^ A Nan Đáp là con trai của Mang Ca Lạt (忙哥剌, Manggela). Mang Ca Lạt là em của Chân Kim.