Nguyễn Đăng Kỉnh

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Nguyễn Đăng Kính (sinh 1941) là một phi công quân sự nổi tiếng người Việt Nam. Ông là một trong số 16 phi công Việt Nam đạt được đẳng cấp Ách trong những trận không chiến trên bầu trời Việt Nam. Ông cũng từng giữ chức Viện phó Viện Kiểm sát Nhân dân tối cao Việt Nam, kiêm Viện trưởng Viện Kiểm sát Quân sự Trung ương, hàm Thiếu tướng.

Thân thế[sửa | sửa mã nguồn]

Ông sinh năm 1941 tại xã Xuân Hồng, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định. Cha ông là một nông dân tham gia du kích chống Pháp tại quê nhà, sau bị thương nặng. Gia cảnh ông rất khó khăn, vì vậy ông chỉ được theo học trường tư thục 3 năm (1949–1952), sau đó phải ở nhà phụ giúp gia đình và chăm sóc cha.

Nhập ngũ ngày 23 tháng 3 năm 1959, ông được cho đi học bổ túc văn hóa, sau đó được tuyển vào Không quân. Tháng 10 năm 1961, ông được chọn đi học lái máy bay tiêm kích tại Liên Xô. Đây là lớp phi công học lái tiêm kích đầu tiên của Việt Nam học tại Liên Xô (các lớp trước học tại Trung Quốc), gồm 40 người do Nguyễn Hồng Nhị làm Đoàn trưởng. Cuối năm 1964, ông và các bạn học viên hoàn thành chương trình đào tạo lái MiG-17 về nước nhận nhiệm vụ. Tuy nhiên, chỉ 4 tháng sau, ông cùng 15 đồng đội nữa lại sang Liên Xô để học chuyển loại lái MiG-21, đến tháng 10 năm 1965 mới trở về nước và được biên chế vào Trung đoàn không quân 921. Ông được kết nạp vào Đảng Lao động Việt Nam vào tháng 3 năm 1966.

Chiến tích 6:4[sửa | sửa mã nguồn]

Trong 2 năm chiến đấu (1967-1968), ông đã 6 lần bắn rơi máy bay Mỹ và 4 lần bị bắn rơi. Những chiến tích ông được ghi nhận như sau[1][2]:

Ông đã từng giữ các chức vụ Trung đoàn phó Trung đoàn không quân tiêm kích 927.

Ông được phong hàm Thiếu tướng năm 1994, được bổ nhiệm làm Viện phó sau là Viện trưởng Viện Kiểm sát Quân sự Trung ương, kiêm Viện phó Viện Kiểm sát nhân dân tối cao.

Danh hiệu và huy chương[sửa | sửa mã nguồn]

  • Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân (2010)
  • Huân chương Quân công hạng Ba
  • Huân chương Chiến công (3 hạng Nhất, 2 hạng Ba)
  • Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhì
  • Huân chương Chiến sĩ vẻ vang hạng Nhất, Nhì, Ba
  • Huy chương Quân kỳ Quyết thắng
  • 6 huy hiệu Bác Hồ

Đời tư[sửa | sửa mã nguồn]

Ông lập gia đình với bà Mông Thị Lợi vào tháng 9 năm 1970. Con trai ông từng tốt nghiệp phi công lái Su-27 và hiện đang công tác ở ngành Hàng không dân dụng Việt Nam.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]