Nguyễn Cơ Thạch

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Nguyễn Cơ Thạch
Nguyễn Cơ Thạch.jpg
Chức vụ
Bộ trưởng Bộ Ngoại Giao
Nhiệm kỳ tháng 2 năm 1980 – tháng 7 năm 1991
Tiền nhiệm Nguyễn Duy Trinh
Kế nhiệm Nguyễn Mạnh Cầm
Thông tin chung
Sinh 15 tháng 5 năm 1921
Vụ Bản - Nam Định
Mất 10 tháng 4 năm 1998
Hà Nội
Binh nghiệp

Nguyễn Cơ Thạch (1921-1998) nhà chính trị, nhà ngoại giao, là cố Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (nay là Phó thủ tướng Chính phủ), cố Bộ trưởng Bộ Ngoại giao của CHXHCN Việt Nam.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Nguyễn Cơ Thạch có tên khai sinh Phạm Văn Cương, sinh ngày 15 tháng 5 năm 1921 tại xã Liên Minh, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định. Ông tham gia Tổ chức Thanh niên Dân chủ rồi Thanh niên Phản đế tại Nam Định (1937–1939), bị thực dân Pháp bỏ tù tại Nam Định, Hoà Bình, Sơn La (1940-1945).

Năm 1943, trong nhà tù Sơn La, ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương.

Ông lãnh đạo cướp chính quyền tại Nam Định (tháng 8 năm 1945).

Tháng 9 năm 1945 về công tác tại Bộ Quốc phòng, làm Bí thư cho Đại tướng Võ Nguyên Giáp; sau đó giữ chức vụ Chánh Văn phòng Quân uỷ Trung ương, Bí thư đảng uỷ các cơ quan Bộ Quốc phòng và Tổng tư lệnh (1947–1949).

Sau đó ông chuyển sang công tác chính quyền và Đảng vụ, làm Phó Bí thư rồi Quyền Bí thư tỉnh uỷ kiêm Chủ tịch Uỷ ban Kháng chiến Hành chính tỉnh Hà Đông (tháng 5 năm 1949 – tháng 5 năm 1951); Uỷ viên Đảng Đoàn và Uỷ viên Uỷ ban Kháng chiến hành chính Liên khu 3, Bí thư Đảng ủy các cơ quan của Liên khu (1949–1954).

Hoạt động trong ngành Ngoại giao[sửa | sửa mã nguồn]

Từ năm 1954, ông chuyển sang công tác trong ngành ngoại giao và lần lượt đảm nhiệm các chức vụ Chánh văn phòng Bộ Ngoại giao (1954–1956), Tổng lãnh sự nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà tại Cộng hòa Ấn Độ (1956–1960); Thứ trưởng Bộ Ngoại giao và Uỷ viên Đảng đoàn Bộ Ngoại giao (tháng 8 năm 1960 – tháng 5 năm 1979); Quyền Trưởng đoàn Đoàn đại biểu Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà tại Hội nghị Genève về Lào (1961–1962); Thứ trưởng Bộ Ngoại giao phụ trách công tác đấu tranh chống Mỹ (từ 1964).

Ông là trợ lý cho Cố vấn Lê Đức Thọ trong đàm phán với Mỹ (1972–1973) đưa đến việc ký kết Hiệp định Paris về Việt Nam; Trưởng đoàn đại biểu Việt Nam Dân chủ Cộng hoà tại Hội nghị Bộ trưởng Bộ Ngoại giao các nước không liên kết tại Peru (1975); Đặc phái viên của Chính phủ thăm các nước Ả Rập, Tây Âu, Bắc ÂuASEAN (1976–1980); Trưởng đoàn đại biểu Việt Nam tại Hội nghị Bộ trưởng Bộ Ngoại giao các nước không liên kết tại Colombo (Sri Lanka), New Delhi (Ấn Độ), Luanda (Angola) (1979–1986); Trưởng đoàn đại biểu Việt Nam dự Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc tại New York (1979–1991).

Tháng 5 năm 1979, ông làm Quốc vụ khanh Bộ Ngoại giao (hàm Bộ trưởng), rồi Bộ trưởng Bộ Ngoại giao từ tháng 1 năm 1980; Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng kiêm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao (tháng 2 năm 1987 – 1991).

Ông là Uỷ viên Ban chấp hành Trung ương Đảng từ tháng 12 năm 1976 đến 1991, Uỷ viên dự khuyết Bộ Chính trị từ năm 1982, Uỷ viên chính thức Bộ Chính trị khoá VI (1986–1991), phụ trách Ban Đối ngoại Trung ương Đảng.

Theo cựu đại sứ Việt Nam ở Trung Quốc, thiếu tướng Quân đội Nhân dân Việt Nam Nguyễn Trọng Vĩnh, việc ông Nguyễn Cơ Thạch mất ghế bộ trưởng bộ ngoại giao là do áp lực của Trung Quốc trong Hội nghị Thành Đô 1990, điều kiện để bình thường hóa quan hệ hai nước.[1]. Theo trang mạng đài RFA, lúc đó ông Nguyễn Cơ Thạch với tư cách bộ trưởng bộ ngoại giao nhận định về thỏa thuận Thành Đô 1990: "Một thời kỳ Bắc thuộc mới rất nguy hiểm đã khởi sự."[2]

Sau khi thôi chức Bộ trưởng Bộ Ngoại giao, ông tham gia nghiên cứu Tổng kết công tác ngoại giao, nghiên cứu kinh tế thế giới và chiến lược đối ngoại (tháng 10 năm 1991 – 1998).

Ông còn là đại biểu Quốc hội khoá VII (1981–1987) và khoá VIII (1987–1992).

Ông đã được tặng thưởng Huân chương Hồ Chí Minh.

Ngày 15 tháng 1 năm 2007, ông được Chủ tịch nước truy tặng Huân chương Sao Vàng. Bà Phan Thị Phúc, vợ ông đã nhận phần thưởng này.

Gia đình[sửa | sửa mã nguồn]

Vợ ông Phan Thị Phúc, là cháu gái ông Phan Tư Nghĩa Tổng thư ký Đảng Xã hội Việt Nam. Ông bà kết hôn năm 1947.

Nhận xét[sửa | sửa mã nguồn]

"Đối với tôi Ngoại trưởng Nguyễn Cơ Thạch là một trong ba vị lãnh đạo để lại ấn tượng mạnh nhất. Ảnh hưởng của ông Thạch với tôi là bản lĩnh khi đương đầu với các vấn đề quốc tế, luôn tự tin, lạc quan, và luôn tìm mọi khe hở dù nhỏ nhất để tìm ra lối đi." - Cựu phóng viên VTV và Reuters Nguyễn Văn Vinh.[3]

Tên đường[sửa | sửa mã nguồn]

Từ tháng 8 năm 2008, tên của ông được đặt cho con đường cắt ngang với đường Hồ Tùng Mậu, dẫn ra khu đô thị Mỹ Đình 2, huyện Từ Liêm, thành phố Hà Nội. Đường Nguyễn Cơ Thạch nằm song song với đường Lê Đức Thọ.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]