Nguyễn Cảnh Toàn

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Nguyễn Cảnh Toàn
Chức vụ
Hiệu trưởng trường Đại học Sư phạm Hà Nội
Nhiệm kỳ 1967 – 1975
Tiền nhiệm Nguyễn Lương Ngọc
Kế nhiệm Dương Trọng Bái
Thông tin chung
Sinh 28 tháng 9, 1926 (88 tuổi)
Đô Lương - Nghệ An

Nguyễn Cảnh Toàn (born 1926) là một Giáo sư Toán học Việt Nam, nguyên Hiệu trưởng trường Đại học Sư phạm Hà Nội, thứ trưởng Bộ Giáo dục Việt Nam (1976-1989), phó Chủ tịch Hội Toán học Việt Nam và Tổng biên tập tạp chí Toán học và Tuổi trẻ trong hơn 40 năm. Ông được đánh giá là một tấm gương tự học thành tài[1] và có công lao trong việc đào tạo và xây dựng đội ngũ những giáo viên toán [2] Mặc khác, việc ông nhận nhiều giải thưởng hữu danh vô thực đã gây phản cảm trong giới chuyên môn[3] nhất là trong trường hợp sự đóng góp có tầm quốc tế không nhiều và đã lâu không còn tham gia nghiên cứu.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Ông sinh ngày 28 tháng 9 năm 1926 tại làng Nghiêm Thắng, tại xã Đông Sơn, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An.

Nguyễn Cảnh Toàn vào học ở Trường Quốc học Huế năm 1942 và tốt nghiệp tú tài Toán năm 1944.

Cuối năm 1946, trong kỳ thi toán học đại cương, Nguyễn Cảnh Toàn đã tham dự và đỗ thủ khoa. Năm 1947, trong thời gian kháng chiến, Sở Giáo dục Khu 4 triệu tập ông về dạy toán cho Trường Trung học chuyên khoa Huỳnh Thúc Kháng.[4]

Năm 1951, ông được Bộ Giáo dục Việt Nam điều lên dạy đại học ở Khu học xá Trung ương, đặt tại Nam Ninh (Trung Quốc).[4]

Năm 1954, Nguyễn Cảnh Toàn giảng dạy toán tại trường Đại học Khoa học Hà Nội.

Năm 1957, ông nằm trong số chín cán bộ giảng dạy đại học đầu tiên sang Liên Xô làm thực tập sinh. Năm 1959, ông bảo vệ thành công luận án Phó tiến sĩ tại Đại học Lomonosov.

Trở về Việt Nam năm 1959, ông giảng dạy tại khoa Toán và tự nghiên cứu đề tài khoa học về hình học. Trong một chuyến đi công tác tại Liên Xô ba tháng, tháng 6 năm 1963, Nguyễn Cảnh Toàn bảo vệ thành công luận án Tiến sĩ khoa học.[4] Đây là luận án Tiến sĩ Khoa học đầu tiên về khoa học cơ bản của người Việt nghiên cứu ở trong nước và bảo vệ tại Liên Xô.

Sau khi bảo vệ luận án tiến sĩ khoa học về hình học, ông tiếp tục giảng dạy tại khoa Toán Đại học sư phạm Hà Nội và đảm nhiệm các chức vụ: chủ nhiệm bộ môn hình học, chủ nhiệm khoa toán, hiệu trưởng trường Đại học Sư phạm Hà Nội (1967 - 1975), thứ trưởng Bộ Giáo dục, nay là Bộ Giáo dục và Đào tạo (1976-1989).

Năm 1994, ông nghỉ hưu.

Cho đến năm 2006, ông vẫn tiếp tục nghiên cứu và giảng dạy bộ môn toán.[5].

Hoạt động[sửa | sửa mã nguồn]

Ông đã công bố 8 bài báo khoa học, biên soạn và viết 26 cuốn sách và hơn 650 bài báo về giáo dục. Ông làm phó Chủ tịch Hội Toán học Việt Nam và tổng biên tập tạp chí Toán học và Tuổi trẻ hơn 40 năm.

Ông là người đề xuất chủ trương đào tạo phó tiến sĩ và tiến sĩ trong nước, vì căn cứ vào thực tế số người đủ khả năng và trình độ để làm luận án Phó tiến sĩ, Tiến sĩ thì nhiều nhưng chỉ tiêu gửi đi nước ngoài để đào tạo thì hạn hẹp. Khi ba luận án Phó tiến sĩ đầu tiên được bảo vệ thành công ngày 23-4-1970 tại Trường đại học Sư phạm Hà Nội, thì nhà nước Việt Nam chính thức quyết định mở hệ nghiên cứu sinh trong nước.[4]. Nhờ đó mà đã có hàng trăm Phó tiến sĩ, Tiến sĩ được đào tạo ở Việt Nam.

Ông còn là người đề xuất phong trào "Dạy tốt - học tốt" tại các khoa trong trường Đại học Sư phạm Hà Nội trong những năm cuối của thập niên 1960, xây dựng phong cách giảng dạy mới, phong cách học tập mới, biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo. Phong trào này đã góp phần quan trọng nâng cao chất lượng đào tạo trong những năm chiến tranh.[6]

Trong tuyển tập "Bàn về giáo dục Việt Nam", ông đã viết một số quan điểm của mình, ông quan niệm "...Tư duy và nhân cách quan trọng hơn kiến thức...Người thầy dở là người chỉ đem kiến thức cho học trò, người thầy giỏi là người biết đem đến cho họ cách tự tìm ra kiến thức...".

Tạp chí Toán học và tuổi trẻ[sửa | sửa mã nguồn]

Tạp chí Toán học và tuổi trẻ do ông làm Tổng Biên tập trong hơn 40 năm đã góp phần phổ biến kiến thức toán học cho nhiều thế hệ học sinh tại Việt Nam.

Tác phẩm[sửa | sửa mã nguồn]

Công trình khoa học: Theo thống kê từ MathSciNet (kho tài liệu toán học trên toàn thế giới, thuộc Hội Toán học Hoa Kỳ) ông có tất cả 8 bài báo khoa học được công bố, sắp theo thứ tự ngược thời gian:

  • Nguyễn Cảnh Toàn, Nguyễn Đăng Phất, Les espaces ultranoneuclidiens. (French) [Ultra-non-Euclidean spaces] Acta Math. Vietnam. 13 (1988), no. 1, 117–151 (1989)
  • Nguyễn Cảnh Toàn, Structure d'espace projectif de l'ensemble des espaces riemanniens à absolu mobile admettant une base donnée. (French) Acta Math. Vietnam. 1 (1976), no. 2, 75–88.
  • Nguyễn Cảnh Toàn, Sur un espace reimannien à absolus locaux. (French) Acta Sci. Vietnam 2 1965 5--42.
  • Nguyễn Cảnh Toàn, Les involutions $n$-aires. (French) Acta Sci. Vietnam 1 1964 167–252
  • Nguyễn Cảnh Toàn, Decomposition d'une collineation de l'espace $P_{n}$ en produit de perspectives ou en produit d'homologies centrales application ax matrices. (French) Publ. Math. Debrecen 10 1963 1--9.
  • Nguyễn Cảnh Toàn, Involution $n$-aire. (French) Acta Math. Acad. Sci. Hungar. 13 1962 231–234.
  • Nguyễn Cảnh Toàn, Définiton géométrique des quadriques dans les espaces non-euclidiens. (French) Acta Math. Acad. Sci. Hungar. 13 1962 101–107.
  • Nguyễn Cảnh Toàn,, Involution $n$-aire et ses applications à l'étude des hyperquadriques dans les espaces euclidiens et non-euclidiens à $n$ dimensions. (French) Acta Math. Acad. Sci. Hungar. 13 1962 109–113.

Một số tác phẩm khác của Nguyễn Cảnh Toàn:

  • Phương pháp luận duy vật biện chứng với việc học, dạy và nghiên cứu toán học: Sách tham khảo cho giáo viên, sinh viên, nghiên cứu sinh toán học và triết học/ Nguyễn Cảnh Toàn.- H.: Nxb. Đại học quốc gia Hà Nội, 1997. (2 tập)
  • Tập dượt cho học sinh giỏi toán quen dần với nghiên cứu toán học.
  • "Ultra non euclidian geometry" ("Hình học siêu phi Ơclit"; 1999), viết bằng tiếng Pháp.
  • Hình học xạ ảnh, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội, 1979.
  • Tuyển tập các công trình toán học và giáo dục/ Nguyễn Cảnh Toàn.- H.:Giáo dục,2005.-897 tr.
  • Tuyển tập "Bàn về giáo dục Việt Nam".
  • Tuyển tập tác phẩm "Tự giáo dục, tự học, tự nghiên cứu".
  • Phong cách học tập mới về môn toán.
  • Từ điển thuật ngữ toán học (Có đối chiếu thuật ngữ Anh, Pháp) / Nguyễn Cảnh Toàn, Hoàng Kỳ, Nguyễn Mạnh Quý. - Hà Nội: Từ điển Bách khoa, 2001.
  • Khơi dậy tiềm năng sáng tạo/ Nguyễn Cảnh Toàn, Nguyễn Văn Lê, Châu An.- H.: Giáo dục, 2004.- 383tr.
  • 74 câu chuyện học toán thông minh, sáng tạo/ Nguyễn Cảnh Toàn. Nxb Nghệ An, 2003.
  • Biển học vô bờ: Tư vấn phương pháp học tập/ Nguyễn Cảnh Toàn ch.b, Nguyễn Như Ất.- In lần thứ 4.- H.: Thanh niên, 2003.- 295tr.
  • Không gian Véctơ: Tài liệu bồi dưỡng giáo viên toán/ Nguyễn Cảnh Toàn.- H.: Giáo dục, 1976.- 175tr.
  • Những chặng đường phát triển của ngành sư phạm Việt Nam/ Nguyễn Cảnh Toàn chủ biên.- H.: Nxb. Đại học quốc gia Hà Nội, 1996.- 139tr.

Danh dự, khen thưởng[sửa | sửa mã nguồn]

  • Đầu năm 1996, ông được Trung tâm Tiểu sử Quốc tế (IBC) của Anh (một công ty tư nhân bị chỉ trích chuyên bán danh) mời làm Phó Tổng giám đốc Trung tâm. Giữa năm 1996, IBC tặng ông bằng "Danh dự vẻ vang" (Illuminated diploma of honour) về những thành tựu mà ông đạt được trong lĩnh vực toán học và giáo dục.
  • Năm 1998, Viện Tiểu sử Hoa Kỳ (ABI) (một công ty tư nhân khác cũng bị chỉ trích là chuyên bán danh) đã bầu ông vào danh sách danh nhân thế giới và đã giới thiệu ông trong 1 bộ sách của Viện. Năm 2001, GS. Nguyễn Cảnh Toàn lại được ABI đưa vào danh sách 114 "trí tuệ lớn nhất thế giới của thế kỷ 21". Năm 2004, Viện này cấp bằng "Viện sĩ nổi tiếng" cho ông. Ngày 25 tháng 5 năm 2005, ABI phong tặng "những bộ óc vĩ đại của thế kỷ 21" [7].

Gia đình[sửa | sửa mã nguồn]

Giáo sư Nguyễn Cảnh Toàn có con trai là PGS-TS Nguyễn Cảnh Lương, hiệu phó trường đại học Bách Khoa Hà Nội

Dư luận[sửa | sửa mã nguồn]

Giáo sư, Viện sĩ, TSKH Cơ học Nguyễn Văn Đạo là học trò của Giáo sư Nguyễn Cảnh Toàn thời ông học đại học tại Đại học Sư phạm Hà Nội đã viết như sau: "...Chúng tôi thán phục giáo sư Nguyễn Thúc Hào ở môn Hình học vi phân với lối trình bày mạch lạc, cách viết bảng tuyệt diệu và trí nhớ hiếm có; Giáo sư Lê Văn Thiêm ở môn hàm phức lý thú với các phép biến hình ảo giác kỳ lạ và cả tính đãng trí đáng đáng yêu của giáo sư nữa, Giáo sư Nguyễn Cảnh Toàn ở môn hình học xạ ảnh, ở phương pháp tư duy và phong cách nghiên cứu khoa học nghiêm túc, hiệu quả..."{Đường vào khoa học- Say mê và kết quả/ Viện sĩ Nguyễn Văn Đạo/ Tạp chí Cơ khí ngày nay, số 29-1999, trang 30}

Một vài báo Việt Nam đã bắt đầu nghi ngờ về giá trị của những danh hiệu và giải thưởng theo kiểu mà những người nhận được từ Viện tiểu sử Hoa Kỳ hay Trung tâm Tiểu sử danh nhân quốc tế[8]. Đây là các tổ chức phi khoa học, theo nghĩa không xuất phát từ một trường đại học hay một viện nghiên cứu nào, và các danh hiệu do họ trao tặng dựa trên sự đóng góp về tài chính của người được trao tặng chứ không phải là từ các tiêu chuẩn về học thuật. Do đó việc chấp nhận các danh hiệu hữu danh vô thực kiểu như "Những bộ óc vĩ đại của thế kỷ 21" bằng cách trả một chi phí khá lớn đã gây phản cảm trong giới chuyên môn[3] nhất là trong trường hợp sự đóng góp có tầm quốc tế không nhiều (số công trình khoa học không nhiều, và không được đồng nghiệp trích dẫn) và đã lâu không còn tham gia nghiên cứu - theo MathSciNet.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]