Nguyễn Hữu Hạnh

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh (1923 – ) là phụ tá Tổng tham mưu trưởng cuối cùng của Quân lực Việt Nam Cộng Hòa. Ông là cơ sở của Ban binh vận Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam, người đã tác động để Tổng thống Dương Văn Minh sớm đi đến quyết định kêu gọi Quân lực Việt Nam Cộng Hòa buông vũ khí trước sức tấn công của Quân Giải phóng miền NamQuân đội Nhân dân Việt Nam vào Sài Gòn tháng 4 năm 1975.

Con đường binh nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Nguyễn Hữu Hạnh sinh tại ấp Phú Thuận, xã Phú Phong, quận Châu Thành, tỉnh Mỹ Tho (nay là tỉnh Tiền Giang).

Năm 1946, ông nhập ngũ, tham gia quân đội Pháp, dưới quyền thiếu úy Dương Văn Minh. Đây là sự khởi đầu của mối quan hệ thân tình của ông với Dương Văn Minh về sau.

Năm 1955, khi Ngô Đình Diệm lên làm Tổng thống và mở chiến dịch tiêu diệt lực lượng vũ tranh của giáo phái, ông giữ chức vụ Tham mưu trưởng Chiến dịch Hoàng Diệu (đánh Hòa Hảo), hàm thiếu tá, rồi Chiến dịch Thoại Ngọc Hầu (đánh Cao Đài), hàm trung tá, dưới quyền đại tá Dương Văn Minh. Tuy nhiên, cách đối xử của Ngô Đình Diệm đối với Dương Văn Minh cũng ảnh hưởng nhiều đến đường công danh của ông.

Tháng 10 năm 1963, khi đang là đại tá Tham mưu trưởng Quân đoàn IV, dưới quyền thiếu tướng Huỳnh Văn Cao, cha ông là Nguyễn Hữu Điệt qua đời. Do ý nguyện của cha muốn được chôn cất tại quê nhà, nơi đang thuộc quyền kiểm soát của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam tỉnh Mỹ Tho, ông đã thỏa thuận ngưng bắn 3 ngày để làm lễ tang và chôn cất cho cha. Điều này khiến cho Ban binh vận chú ý và nảy ý đồ vận động ông làm cơ sở.

Trong cuộc đảo chính 1 tháng 11 năm 1963, chính ông đã ngầm ủng hộ cho tướng Dương Văn Minh làm đảo chính, hỗ trợ đại tá Nguyễn Hữu Có chiếm quyền chỉ huy Sư đoàn 7, khuyên tướng Huỳnh Văn Cao án binh bất động, ngăn cản lực lượng quân đoàn IV về chống đảo chính, giúp cuộc đảo chính thành công.

Thất sủng[sửa | sửa mã nguồn]

Tuy nhiên, do tướng "Minh Lớn" nhanh chóng bị tước quyền lực, ông cũng bị ảnh hưởng nhiều và bị thất sủng, biểu hiện tâm lý bất mãn. Do đó, ông thường xuyên bị điều động vào những chức vụ ít quan trọng. Thông qua người bác Nguyễn Tấn Thành [1] từ năm 1970, ông trở thành cơ sở của Ban binh vận Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam, với bí danh S7 hoặc Sao Mai. Cũng trong năm này, ông mới được thăng Chuẩn tướng, phó tư lệnh quân đoàn IV dưới quyền tướng Nguyễn Viết Thanh. Sau đó ông được điều lên vùng cao nguyên làm Phó tư lệnh quân đoàn II dưới quyền tướng Ngô Du.

Tháng 5 năm 1974, ông nhận được quyết định hồi hưu do quá hạn phục vụ. Tuy vậy, Ban binh vận vẫn quyết định sử dụng ông như con bài chiến lược, dự trữ để tham gia "lực lượng thứ ba" của tướng Dương Văn Minh.

Viên phụ tá Tổng tham mưu trưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 28 tháng 4 năm 1975, sau khi Dương Văn Minh lên nắm chức vụ tổng thống, ông được phân công giữ chức Phụ tá cho tân Tổng tham mưu trưởng, Trung tướng Vĩnh Lộc. Tuy nhiên, không lâu thì tướng Vĩnh Lộc đào nhiệm, vì vậy, nhân danh Tổng tham mưu trưởng, ông đã ra tuyên bố kêu gọi binh sĩ buông súng. Ông cũng là một trong 2 vị tướng bên cạnh tổng thống Dương Văn Minh trong giờ phút cuối cùng của Việt Nam Cộng hòa (cùng với ông Nguyễn Hữu Có, đối thủ cũ của Dương Văn Minh).

Vị nhân sĩ[sửa | sửa mã nguồn]

Sau 1975, ông trở thành Tổng thư ký Hội nhân dân bảo trợ Nhà trường, sau được bầu Ủy viên Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam với tư cách là Nhân sĩ yêu nước và giữ chức vị đó cho đến nay.

Ông hiện sống với gia đình ở quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Cha Nguyễn Tấn Phát, Ủy viên Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa IX, X, Thứ trưởng Bộ Giáo dục

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]