Nguyễn Hữu Thọ
| Nguyễn Hữu Thọ | |
![]() Luật sư Nguyễn Hữu Thọ |
|
| Quyền Chủ tịch nước | |
|---|---|
| Nhiệm kỳ | 30 tháng 3, 1980 – 4 tháng 7, 1981 1 năm, 96 ngày |
| Tiền nhiệm | Tôn Đức Thắng |
| Kế nhiệm | Trường Chinh |
| Khu vực | |
| Phó Chủ tịch nước | |
| Nhiệm kỳ | 25 tháng 4, 1976 – 19 tháng 7, 1992 16 năm, 85 ngày |
| Khu vực | |
| Chủ tịch Quốc hội | |
| Nhiệm kỳ | 26 tháng 4, 1981 – 19 tháng 4, 1987 5 năm, 358 ngày |
| Khu vực | |
| Chủ tịch Hội đồng cố vấn Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam |
|
| Nhiệm kỳ | tháng 6, 1969 – 25 tháng 4, 1976 6 năm, 315 ngày |
| Khu vực | |
| Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc Việt Nam | |
| Nhiệm kỳ | 2 tháng 11 năm 1988 – 17 tháng 8 năm 1994 5 năm, 288 ngày |
| Tiền nhiệm | Huỳnh Tấn Phát |
| Kế nhiệm | Lê Quang Đạo |
| Sinh | 10 tháng 7, 1910 Chợ Lớn, Đông Dương thuộc Pháp |
| Mất | 24 tháng 12, 1996 (86 tuổi) TP.HCM, Việt Nam |
Luật sư Nguyễn Hữu Thọ (10 tháng 7 năm 1910–24 tháng 12 năm 1996) là thành viên của Đảng Cộng sản Việt Nam và trở thành Chủ tịch đầu tiên của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam.
Tiểu sử[sửa]
Ông sinh tại làng Long Phú, tổng Long Hưng Hạ, quận Trung Quận, tỉnh Chợ Lớn (nay là thị trấn Bến Lức, huyện Bến Lức, tỉnh Long An)[1]. Năm 1930, ông học luật tại Pháp và trở về nước năm 1933. Hành nghề luật sư khắp các tỉnh miền Tây Nam Bộ, ông luôn bảo vệ công lý, bênh vực người dân vô tội trước tòa án thực dân. Năm 1947, ông đã vận động hàng trăm luật sư, kỹ sư, bác sĩ, dược sĩ, nhà giáo, nhà báo... ký tên vào bản Tuyên ngôn của trí thức Sài Gòn - Chợ Lớn gửi Chính phủ Pháp, đòi Chính phủ Pháp đàm phán với Chính phủ Việt Nam do Việt Minh lãnh đạo. Năm 1948, ông tham gia Mặt trận Liên Việt và năm sau được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương. Ông hoạt động trong phong trào trí thức và bị Pháp bắt tháng 6 năm 1950, bị giam ở Lai Châu rồi Sơn Tây cho đến tháng 11 năm 1952. Sau đó ông lại tham gia phong trào đấu tranh hợp pháp, đòi hòa bình ở Sài Gòn - Chợ Lớn, là Phó chủ tịch Phong trào hòa bình Sài Gòn-Chợ Lớn. Năm 1954, ông bị chính quyền Ngô Đình Diệm bắt và bị giam tại Phú Yên.
Cuối tháng 11 năm 1961, luật sư Nguyễn Hữu Thọ về đến bắc Tây Ninh. Tháng 2 năm 1962 Đại hội lần thứ I Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam được tổ chức và luật sư Nguyễn Hữu Thọ được bầu làm Chủ tịch.
Khi Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam được thành lập vào tháng 6 năm 1969, ông giữ chức Chủ tịch Hội đồng cố vấn.
Năm 1976, ông được bầu làm Phó Chủ tịch nước Việt Nam thống nhất.
Tháng 4 năm 1980, sau khi Chủ tịch nước Việt Nam Tôn Đức Thắng qua đời, ông làm Quyền Chủ tịch nước cho đến tháng 7 năm 1981.
Năm 1981, ông là Chủ tịch Quốc hội Việt Nam cho đến năm 1987, rồi là Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc tại đại hội năm 1988. Ông giữ chức Phó Chủ tịch Hội đồng nhà nước khóa VII, VIII.
Ông được thưởng Huân chương Sao vàng năm 1993.
Ông qua đời tại Thành phố Hồ Chí Minh năm 1996.
Tham khảo[sửa]
- ^ “Luật sư Nguyễn Hữu Thọ - Nhà trí thức yêu nước vĩ đại”. SGGPO. Truy cập ngày 6 tháng 9 năm 2010.
Liên kết ngoài[sửa]
| Tiền nhiệm: Trường Chinh |
Chủ tịch Quốc hội Việt Nam 1981-1987 |
Kế nhiệm: Lê Quang Đạo |
| Tiền nhiệm: Tôn Đức Thắng (Chủ tịch nước) |
Quyền Chủ tịch nước Việt Nam Tháng 4 năm 1980-Tháng 7 năm 1981 |
Kế nhiệm: Trường Chinh (Chủ tịch Hội đồng Nhà nước) |
| Tiền nhiệm: Huỳnh Tấn Phát |
Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc Việt Nam 11/1988 - 8/1994 |
Kế nhiệm: Lê Quang Đạo |
|
||||||||
|
|||||||||||
|
|||||
