Nguyễn Khôi

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm


Nguyễn Khôi
Sinh 26 tháng 12 năm 1938
Bắc Ninh
Công việc Nhà thơ, nhà văn

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Nguyễn Khôi sinh ngày 26-12-1938 tại thị xã Yên Bái. Quê quán: phường Đình Bảng, thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh[1], hiện thường trú tại số 259/39 phố Vọng, Hà Nội. Ông là hội viên Hội Nhà văn Hà Nội, uỷ viên Ban chấp hành Hội Văn nghệ dân gian Hà Nội, ủy viên BCH Hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam (khóa 2).

1959 - 1963[sửa | sửa mã nguồn]

học Đại học Nông Nghiệp Hà Nội, tốt nghiệp kĩ sư năm 1963 lên công tác tại Sơn La, Ở 21 năm trải qua các chức vụ: Trưởng phòng kĩ thuật sở nông nghiệp Sơn La, Giám đốc nông trường, Thư kí ủy ban nhân dân tỉnh Sơn La.Ngoài công tác chuyên môn ông đã ra sức học tiếng Thái và đi sâu nghiên cứu văn học các dân tộc ở Tây Bắc...Kết quả là: một tập thơ "gửi mường bản xa xăm" đã đưa tác giả vào các tuyển tập thơ Quốc Gia, được xếp vào số các nhà thơ Việt Nam thế kỷ XX; bản dịch truyện thơ "sống chụ son sao" (Tiễn dặn người yêu ra 1024 câu song thất lục bát, là một bản dịch thành công được bạn đọc trong và ngoài nước đón nhận; cuốn sách họ và tên của 54 dân tộc ở Việt Nam là một công trình "giải mã" về cách thức đặt tên của các tộc người ở Việt Nam, xưa nay chưa có ai viết)

1984 - 2000[sửa | sửa mã nguồn]

1985 tốt nghiệp học viện hành chính Quốc Gia Hà Nội; 1986 - 1987 tốt nghiệp quản lí kinh tế trên Đại học tại trường Đại học kinh tế tài chính Xanh-Petecbua (Cộng hòa liên bang Nga); chuyên viên cao cấp - Phó Vụ Trưởng Văn Phòng Quốc Hội Việt Nam.Song song với công việc ở cơ quan ông đã dành công sức trong vòng 8 năm biên soạn cuốn "Bắc Ninh thi thoại" (đã xuất bản tới 3 lần và đã được thư viện các nước Hoa Kỳ, Anh Quốc lưu giữ giới thiệu về nền thơ ca 10 thế kỷ xứ Kinh Bắc)

2002 - 2009[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi nghỉ hưu, ông tập trung viết bộ sử làng "Cổ Pháp Cố Sự"[2] - 4 tập= 920 trang, là một công trình biên khảo công phu, tác giả đã khai thác phát huy vốn văn sử chính thống cùng văn học dân gian một các nhuần nhuyễn, khoa học với những chứng cứ khảo cứu trung thực về quê hương cội nguồn nhà Lý xưa và nay

Tác phẩm[sửa | sửa mã nguồn]

  • Trai Đình Bảng (NXB Văn học - 1995, NXB Văn hoá thông tin - 2000)
  • Gửi mường bản xa xăm (NXB Văn hoá dân tộc 1998 - giải thưởng Hội VHNT các dân tộc thiểu số Việt Nam - 1998)
  • Trưa rừng ấy (NXB VHDT - 2005)
  • Bắc Ninh thi thoại (biên khảo, đã tái bản lần thứ 3)
  • Các dân tộc ở Việt Nam - cách dùng họ và đặt tên (biên khảo)
  • Cổ pháp cố sự - 4 tập viết về cội nguồn nhà Lý (được giải thưởng Văn học nghệ thuật Thủ Đô 2008)
  • Có thơ in ở: Tuyển tập thơ Việt Nam 1945-2000 (NXB Lao Động), Tuyển tập thơ Việt Nam 1975-2000 (NXB Hội Nhà văn), Tuyển tập văn học miền núi (NXB Giáo Dục - 1998), Tuyển tập thơ Việt Nam thế kỉ 20 (NXB Giáo Dục - 2005)

Dịch thuật[sửa | sửa mã nguồn]

  • Sống chụ son sao (Truyện thơ dân tộc Thái)
  • Út ỏ về Kinh
  • Tiếng hát làm dâu (dân ca HMong)
  • Khun lu - nàng Ủa (Truyện thơ dân tộc Thái)
  • Dặn lại Mường (thơ dân tộc Thái)

Giải thưởng[sửa | sửa mã nguồn]

  • Giải thưởng thơ viết về 1000 năm Thăng Long, bài "Về Hà Nội" Hội Liên hiệp Văn học nghệ thuật Hà Nội 2005
  • Giải thưởng Văn học nghệ thuật Thủ đô 2008 cho bộ sử làng "Cổ Pháp Cố Sự"

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]