Nguyễn Khắc Nhu

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Nguyễn Khắc Nhu
Tượng đài nhà yêu nước Nguyễn Khắc Nhu.
Bia đá.
Chức vụ
Thông tin chung
Sinh 1882
Thôn Song Khê, Song Khê, TP Bắc Giang, T Bắc Giang
Mất 11/02/1930 - Lâm Thao, Phú Thọ

Nguyễn Khắc Nhu (chữ Hán: 阮克柔; 18821930) là một chí sĩ yêu nước Việt Nam thời cận đại. Ông là một trong những cột trụ của Việt Nam Quốc dân đảng thời kỳ trước 1930.

Thân thế[sửa | sửa mã nguồn]

Ông sinh năm 1882, tại làng Song Khê, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang. Xuất thân trong một gia đình Nho học, mồ côi cha năm 13 tuổi, thuở nhỏ ông theo học khoa cử, năm 1912 đi thi Hương đứng đầu cả xứ Bắc Kỳ nên đương thời gọi là Đầu Xứ Nhu, gọi tắt là Xứ Nhu.

Cuộc đời cách mạng[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1903, ông từng dẫn đường cho Phan Bội Châu lên đồn Phồn Xương gặp Đề Thám. Sau nhiều lần thi Hội không đậu, ông về quê dạy học và tham gia phong trào Đông Du, lập Hội quốc dân dục tài theo kiểu phong trào Đông Kinh nghĩa thục, thực hiện một số cải cách tại quê nhà, tuy nhiên đều bị chính quyền thực dân cấm không được phép hoạt động.

Năm 1909, sau khi cả phong trào Đông du và Đông Kinh nghĩa thục đều bị tan vỡ, thực dân Pháp truy nã và bắt giam nhiều nhà chí sĩ, có cả Phan Bội Châu và Phan Chu Trinh. Nguyễn Khắc Nhu trốn sang Trung Quốc, tham gia vào cuộc vận động cứu nước. Từ đó, ông chuyển dần xu hướng đấu tranh bất bạo động sang xu hướng bạo động. Năm 1927, ông về nước cùng với các đồng chí thành lập Hội Việt Nam Dân Quốc, tổ chức nhiều cuộc tập kích một số đồn Pháp ở Bắc Ninh, Đáp Cầu, Phả Lại... với ý định vũ trang khởi nghĩa. Năm 1928, ông sát nhập hội Việt Nam Dân Quốc vào Việt Nam Quốc Dân Đảng và ông được cử tham gia với vai trò là trưởng ban Lập pháp của đảng.

Năm 1929, sau Vụ ám sát Bazin - một trùm mộ phu đồn điền Nam Kỳ, các cơ sở của Việt Nam Quốc Dân Đảng bị thực dân Pháp khủng bố ác liệt, ông và Nguyễn Thái Học trốn thoát rút lui vào hoạt động bí mật và bị "Hội đồng đề hình" kết án vắng mặt ông 10 năm cấm cố. Trước tình hình có khả năng tan vỡ, các lãnh đạo Việt Nam Quốc dân đảng quyết định đẩy mạnh hoạt động vũ trang khởi nghĩa với phương châm "Không thành công thì thành nhân". Năm 1930, ông được giao nhiệm vụ trực tiếp lãnh đạo khởi nghĩa ở Yên Bái, Phú Thọ, Sơn Tây. Do không chuẩn bị kỹ lưỡng, các lực lượng ở các nơi không cùng bộc phát một lúc, thực dân Pháp có điều kiện phòng ngừa, nên cuộc khởi nghĩa thất bại.

Ngày 9 tháng 2 năm 1930, ông trực tiếp chỉ huy trận đánh tập kích đồn binh Hưng Hoá và phủ lị Lâm Thao.Sáng hôm sau, quân Pháp từ Phú Thọ kéo lên phản công quyết liệt, quân khởi nghĩa bị đánh tan, Nguyễn Khắc Nhu bị thương giữa đường ông dùng lựu đạn tự tử nhưng không chết và bị quân Pháp bắt được. Trên đường giải về trại giam, ông nhảy xuống sông tự trầm, nhưng lại bị quân Pháp vớt được và đem về giam ông tại Hưng Hóa. Tại đây, ngày 11 tháng 2 năm 1930, ông đập đầu vào tường giam tự tử để bảo toàn khí tiết, hưởng dương 49 tuổi. [1]

Sáng tác[sửa | sửa mã nguồn]

Ông còn là tác giả của một số bài thơ, bài báo vận động cải cách đăng trên báo:An Nam tạp chí, Thực nghiệp dân báo trước đây.... Bài thơ Tiễn bạn...

Ghi công[sửa | sửa mã nguồn]

Tên ông được dùng đặt cho một đường phố ở Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, Bắc Giang Đà Nẵng, An Giang, Yên Bái và một số thành phố khác của Việt Nam. Tượng đài tưởng niệm ông ở thôn Song Khê, xã Song Khê, TP Bắc Giang, T Bắc Giang đã được tỉnh Bắc giang cấp bằng công nhận di tích lịch sử.

Lễ đón nhận bằng di tích

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Trương Hữu Quýnh, Đinh Xuân Lâm, Lê Mậu Hãn. Chương IX – PHONG TRÀO DÂN TỘC Ở VIỆT NAM từ 1925 – 1930, Đại cương lịch sử Việt Nam, Hà Nội, Giáo Dục, Tr.751-754.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]