Nguyễn Lương Bằng

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Nguyễn Lương Bằng
Nguyen Luong Bang.jpg
Chức vụ
Nhiệm kỳ 22 tháng 9, 1969 – 20 tháng 7, 1979
Tiền nhiệm Tôn Đức Thắng
Nhiệm kỳ 25 tháng 4, 1956 – 11 tháng 10, 1965
Tiền nhiệm Nguyễn Văn Trân
Kế nhiệm Nguyễn Thanh Bình
Nhiệm kỳ tháng 4, 1952 – tháng 4, 1956
Kế nhiệm Nguyễn Văn Kỉnh
Nhiệm kỳ tháng 5, 1951 – tháng 4, 1952
Tiền nhiệm Trịnh Văn Bính
Kế nhiệm Lê Viết Lượng
Thông tin chung
Đảng phái Đảng Cộng sản Việt Nam
Sinh 2 tháng 4, 1904(1904-04-02)
Thanh Miện, Hải Dương
Mất 1979
Hà Nội
Vợ Hà Thục Trinh

Nguyễn Lương Bằng (1904-1979) là một nhà hoạt động cách mạng và chính khách của Việt Nam. Ông từng giữ các chức vụ Phó Chủ tịch nước Việt Nam (1969-1979), Tổng giám đốc Ngân hàng quốc gia Việt Nam, đại sứ đầu tiên của Việt Nam tại Liên Xô cũ (1952-1956), Tổng Thanh tra chính phủ (1956).

Thân thế và sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Ông sinh ngày 2 tháng 4 năm 1904, tại thôn Đông, xã Đoàn Lâm (nay là xã Thanh Tùng) huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương, trong một gia đình nhà nho nghèo có truyền thống yêu nước. Trong suốt cuộc đời hoạt động của mình, ông còn sử dụng bí danh Anh Cả, hoặc Sao Đỏ.

Tháng 12 năm 1925, ông được kết nạp vào Việt Nam Thanh niên cách mạng đồng chí Hội. Từ đấy ông và một số thanh niên yêu nước khác theo học lớp huấn luyện chính trị do Nguyễn Ái Quốc, Hồ Tùng Mậu, Lê Hồng Sơn hướng dẫn.

Tháng 10 năm 1929, tại Hồng Kông ông được kết nạp vào An Nam cộng sản Đảng.

Tháng 5 năm 1931, ông bị mật thám bắt giải về giam ở bốt Catina Sài Gòn. Ít lâu sau, ông bị đưa xuống tàu biển Cờlôtdơsap chở ra Hải Phòng và đưa vào giam ở nhà tù Hỏa Lò Hà Nội. Cuối năm 1931, ông lại bị đưa về Hải Dương.

Tháng 6 năm 1932, tòa đề hình Hải Dương xử ông tù chung thân và chuyển về giam ở nhà tù Hỏa Lò Hà Nội. Cuối năm 1932, ông trốn thoát lên Vĩnh Yên, rồi về Thanh Miện (Hải Dương) hoạt động. Cuối năm 1933, khi đi công tác Bắc Giang, ông lại bị bắt, bị giam ở Hỏa Lò (đầu 1934). Tháng 5 năm 1935 bị đày lên nhà tù Sơn La.

Năm 1943, Đảng bố trí cho ông vượt ngục về làng Vạn Phúc (Hà Đông) gặp Hoàng Văn Thụ để nhận nhiệm vụ, ông được Đảng chỉ định làm ủy viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng, phụ trách công tác tài chính và công tác binh vận của Đảng; đồng thời được phân công hoạt động trong Mặt trận Việt Minh giữ chức Chủ nhiệm của Tổng bộ.

Chuẩn bị khởi nghĩa, Uỷ ban dân tộc giải phóng do Hồ Chí Minh là Chủ tịch; Ban thường trực gồm 5 người, trong đó có Nguyễn Lương Bằng.

Sau Cách mạng tháng Tám, ông từng giữ chức vụ Tổng giám đốc Ngân hàng quốc gia Việt Nam, đại sứ đầu tiên của Việt Nam tại Liên Xô cũ (1952-1956)[1], Trưởng ban Kiểm tra Trung ương, Tổng Thanh tra chính phủ (1956). Tháng 9 năm 1969 được bầu làm Phó Chủ tịch nước Việt Nam.

Ông mất ngày 20 tháng 7, 1979 [2]

Trong suốt cuộc đời mình, ông đã hết lòng phấn đấu,hy sinh vì lợi ích của dân tộc và hạnh phúc của nhân dân, không màng danh lợi.

Gia đình[sửa | sửa mã nguồn]

Ông kết hôn với bà Hà Thục Trinh[3]. Hai người có 4 con gái.

Vợ ông được xem là người đầu tiên trả lại biệt thự cho nhà nước Việt Nam sau khi ông mất.[4]

Để ghi nhận công lao của ông, nhà nước VIệt Nam đã truy tặng Huân chương Sao Vàng cho ông. Một nhà tưởng niệm cũng được xây dựng tại quê hương ông.

Viết về Nguyễn Lương Bằng[sửa | sửa mã nguồn]

"Đó là một cử chỉ vô tư tốt đẹp, không ham chuộng địa vị, đặt lợi ích của dân tộc, của đoàn kết toàn dân lên trên lợi ích cá nhân. Đó là một cử chỉ đáng khen đáng kính mà chúng ta phải học tập".

—Lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh về việc việc làm của ông Nguyễn Lương Bằng sau ngày Cách mạng tháng Tám 1945 thành công.

"Những bài học quý báu tiếp thu được trong những năm tháng làm việc dưới sự chỉ đạo của Anh mãi mãi theo tôi như những bạn đường, những trợ thủ tích cực trong suốt cuộc đời hoạt động ngoại giao của mình. Và như một định mệnh, ba mươi lăm năm sau, tôi trở thành người kế tục Anh ở cương vị Đại sứ Việt Nam tại Liên Xô".

—nguyên Phó Thủ tướng Nguyễn Mạnh Cầm.

"Ai thì tôi chưa biết chứ Anh thì rõ ràng là người thực hiện cần kiệm liêm chính, chí công vô tư theo gương của Hồ Chí Minh vĩ đại. Anh theo Bác không phải bằng thuyết giảng về đạo đức mà bằng cách sống và chiến đấu theo phong cách hàng ngày của Người"

Nguyễn Thọ Chân, nguyên UVTƯ Đảng, nguyên Bí thư Thành uỷ Sài gòn-Chợ Lớn

Đường Nguyễn Lương Bằng[sửa | sửa mã nguồn]

Tên ông được đặt cho các phố ở Hà Nội (nối Tôn Đức Thắng với Tây Sơn thuộc quận Đống Đa), thành phố Hồ Chí Minh (nối Tân Mỹ và Hoàng Quốc Việt), Đà Nẵng (nối Nguyễn Văn Cừ và Tôn Đức Thắng) và đại lộ chính tại thành phố Hải dương.

Tham khảo và chú thích[sửa | sửa mã nguồn]