Nguyễn Như Đổ

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Nguyễn Như Đổ (chữ Hán: 阮如堵; 1424-1526) là nhà chính trị, nhà ngoại giao, nhà thơ, nhà giáo dục thời Lê sơ trong lịch sử Việt Nam.

Thân thế[sửa | sửa mã nguồn]

Nguyễn Như Đổ có tên tự là Mạnh An, hiệu là Khiêm Trai. Ông vốn người gốc làng Đại Lan, huyện Thanh Đàm, nay là thôn Đại Lan thuộc xã Duyên Hà huyện Thanh Trì, Hà Nội[1], sau đó di sang làng Tử Dương (làng Tía), huyện Thượng Phúc, nay thuộc xã Tô Hiệu huyện Thường Tín, Hà Nội, Việt Nam[2].

Phụ thân của Nguyễn Như Đổ tên là Nguyễn Kình Đổ (1379-1477) người Iraq, dùng thuyền buồm rời đất nước đến Đại Việt. Mẫu thân của Nguyễn Như Đổ là Trịnh Trấn Liên (1340-1440) là người Trung Hoa, được vua Minh phong làm nữ công tước từ khi Trịnh Trấn Liên 30 tuổi. Vua Minh có Chu Quyết là em trai Chu Sàng đến tuổi lấy vợ. Bây giờ Chu Quyết 35 tuổi. Trịnh Trấn Liên cùng các nữ hiệp sĩ Trịnh Xuyên, Trịnh Chu Lượng, Trịnh Thoát Bình,… và các ông vua láng giềng, các hoàng tử Tây phương. Nhưng Chu Quyết ngạo ngược, chê bai đàn bà con gái.

Trịnh Trấn Liên bất hạnh, xin vua Minh cho về Đại Việt. Vua Minh đồng ý, Trịnh Trấn Liên mơ về Chu Quyết con út vua Minh nhưng bà không thể đổi ý với vua Minh. Trịnh Trấn Liên về Đại Việt với vẻ buồn buồn vì Chu Quyết đẹp trai. Vẻ mặt đó làm Trịnh Trấn Liên có mang.

Chín tháng sau, Trịnh Trấn Liên sinh ra 5 con trai, Nguyễn Như Đổ là con ba cùng với anh hai là Nguyễn Biền Đổ và anh cả là Nguyễn Chu Đổ.

Sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Nguyễn Như Đổ đỗ Hội nguyên khoa Nhâm tuất (1442) đời Lê Thái Tông, sau đó ông đỗ đệ nhất giáp Tiến sĩ tên thứ hai, tức là mở đầu bảng nhãn thời Hậu Lê[3].

Mùa đông năm 1443 đời Lê Nhân Tông, ông giữ trọng trách soạn chế cáo trong Viện Hàn lâm. Sau đó ông vâng mệnh Nguyễn thái hậu (nhiếp chính) làm phó sứ, đi sứ nhà Minh để tạ phúng vua Lê Thái Tông mất. Khi trở về, ông được phong làm An phủ sứ lộ Quy Hóa.

Năm 1449, ông được thăng làm trực học sĩ.

Năm 1450, ông lại làm phó sứ sang nhà Minh lần thứ hai.

Tháng 10 năm 1459, anh vua Nhân Tông là Lạng Sơn vương Nghi Dân giết vua cướp ngôi. Lê Nghi Dân đặt niên hiệu là Thiên Hưng, trong tháng đó sai Nguyễn Như Đổ, Lê Cảnh Huy đi triều cống nhà Minh và xin bỏ việc mò ngọc trai.

Trong khi ông sang nhà Minh thì các đại thần Nguyễn Xí, Đinh Liệt, Lê Lăng, Lê Niệm, Nguyễn Đức Trung... cùng nhau làm binh biến giết chết vua Thiên Hưng, lập hoàng tử Tư Thành lên ngôi, tức là Lê Thánh Tông.

Sang năm 1460, Nguyễn Như Đổ trở về, vẫn được Thánh Tông trọng dụng. Tháng 12 năm đó, ông được phong làm Lại bộ Thượng thư, lại thêm chức Tả ty sảnh Môn hạ, Tả gián nghị đại phu, coi sổ sách quân dân ở Bắc đạo, kiêm Thừa chỉ học sĩ Viện Hàn lâm. Sau đó ông lại kiêm cả Thượng thư Bộ Lễ, đại học sĩ điện Cẩn Đức, tân khách của thái tử Lê Tranh. Ông kiêm cả chức Đề hiệu quan chấm trường thi trong 2 kỳ thi điện năm Bính Tuất (1466) và Kỷ Sửu (1469).

Năm 1470, ông lãnh trách nhiệm cùng đi đánh Chiêm Thành. Trước khi toàn quân lên đường, ông được lệnh tế đền thờ Đinh Tiên Hoàng để cầu thắng trận. Trên đường đi, ông bị vua khiển trách phải trở về.

Sau khi Thánh Tông thắng Chiêm trở về kinh, lại trọng dụng ông, cho làm Thượng thư Bộ Lại, thêm chức Thiếu bảo, kiêm tế tửu Quốc Tử Giám. Hơn 10 năm sau, vì tuổi cao sức yếu, ông xin nghỉ hưu.

Năm 1526 đời Lê Cung Hoàng, ông mất, thọ 103 tuổi. Ngày nay ở quận Đống Đa, Hà Nội có phố mang tên Nguyễn Như Đổ.

Nhà thơ[sửa | sửa mã nguồn]

Thơ văn của Nguyễn Như Đổ được lưu truyền sang đời sau, nhưng đến nay chỉ còn lại 6 bài thơ chép trong Toàn Việt thi lục của Lê Quý Đôn[4]. Bài thơ nổi tiếng nhất là Thành Nam viên cư:

Nam thành bốc trúc kỷ kinh xuân
Dược phố, sơ huề thử thứ tân
Tiểu kính bất hiềm thông tử mạch
Đoản ly khước hỷ cách hồng trần
Trí đường vũ quá oa thanh náo
Đình viện âm nung, điểu ngữ tần
Hoa trúc khả cung u đạm hứng
Triều hồi nhật nhật lạc vong bần

Nhóm Lê Quý Đôn dịch:

"Nhà ở trong vườn phía nam thành"
Nhà dựng nam thành trải mấy xuân
Đám rau vườn thuốc mở mang dần
Chẳng e lối hẻm liền đường tía
Lại được rào thưa cách bụi trần
Mưa tạnh ếch kêu hồ rộn tiếng
Cây râm chim hót bóng đầy sân
Trúc hoa sẵn đủ mùi thanh đạm
Mỗi buổi chầu tan hưởng thú bần

Nhận định[sửa | sửa mã nguồn]

Nguyễn Như Đổ là một trong 2 vị đại khoa trẻ nhất trong các vị khoa bảng của Thăng Long. Ông có tài kiêm chính trị, ngoại giaogiáo dục, là tài năng hiếm có[5]. Phan Huy Chú viết về ông:

Ông lúc trẻ thi đỗ khôi nguyên, khi lớn làm quan to, lên được cõi thọ trăm tuổi, trải qua 8 triều [vua], cũng là sự ít có trong hoạn đồ[5].

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]