Nguyễn Thị Định

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Nguyễn Thị Định
Nguyenthidinh.jpg
Nữ tướng Nguyễn Thị Định
Tiểu sử
Biệt danh cô Ba Định
Quốc tịch Flag of Vietnam.svg Việt Nam
Sinh

15 tháng 3, 1920(1920-03-15)

Lương Hòa, Giồng Trôm, Bến Tre, Việt Nam
Mất

26 tháng 8, 1992 (72 tuổi)

Bến Tre, Việt Nam
Binh nghiệp
Thuộc Flag of Viet Nam Peoples Army.svg Quân đội nhân dân Việt Nam
Năm tại ngũ 1936 - 1992
Cấp bậc Thiếu tướng
Chỉ huy Đồng khởi Bến Tre
Khen thưởng Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân
Công việc khác Phó Chủ tịch Hội đồng Nhà nước CHXHCN Việt Nam (1987-1992)

Nguyễn Thị Định (15 tháng 3 năm 192026 tháng 8 năm 1992), còn gọi là Ba Định) (bí danh Bích Vân, Ba Tấn, Ba NhấtBa Hận [1]); là nữ tướng đầu tiên của Quân đội Nhân dân Việt Nam.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Nguyễn Thị Định sinh ngày (15 tháng 3 năm 1920 trong một gia đình nông dân tại xã Lương Hòa, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre.[2]

Cuộc đời hoạt động cách mạng[sửa | sửa mã nguồn]

Thời kì chống Pháp[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1936, được sự dìu dắt của người anh ruột là Nguyễn Văn Chẩn, bà tham gia phong trào Đông Dương đại hội như đi liên lạc, rải truyền đơn, vận động bà con chống sự áp bức ở địa phương.

Năm 1938, bà được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương. Năm 1940, chồng bà bị đối phương bắt đày đi Côn Đảo và hy sinh ở đó. Nửa năm sau, đến lượt bà cũng bị bắt đày đi Bà Rá (thuộc tỉnh Bình Phước ngày nay.)

Năm 1943, do bị đau tim nặng, bà được trở về quê, chịu sự quản thúc của chính quyền địa phương.

Năm 1944, bà bắt liên lạc được với tổ chức cách mạng rồi tiếp tục hoạt động.

Tháng 3 năm 1946, bà tham gia đoàn cán bộ miền Nam ra Bắc gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh và chính phủ để báo cáo tình hình kháng chiến ở Nam Bộ và xin chi viện vũ khí. Tháng 11 năm đó, bà làm Trưởng đoàn của đoàn thuyền chở vũ khí về Nam.

Năm 1947, bà được bầu vào Tỉnh Ủy Bến Tre. Từ đó, bà cùng các cán bộ lãnh đạo ở địa phương tổ chức cuộc kháng chiến của nhân dân Bến Tre.

Thời kì chống Hoa KỳViệt Nam Cộng hòa[sửa | sửa mã nguồn]

Tượng đồng Nguyễn Thị Định trong đền thờ

Những năm sau khi Hiệp định Genève (tháng 7 năm 1954), Bến Tre là một trọng điểm cần phải bình định của chính quyền Ngô Đình Diệm. Trong thời gian này, bà là một trong những cán bộ chủ chốt của Đảng bộ Bến Tre, đã cùng với các cán bộ lãnh đạo khác ra sức bảo vệ cách mạng, bảo vệ nhân dân.

Tháng 11 năm 1959, bà làm Phó bí thư Tỉnh ủy Bến Tre. Sau đó bà nhận nhiệm vụ về khu ủy Trung Nam Bộ (Khu 8 cũ) dự hội nghị tiếp thu Nghị quyến 15 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Đầu năm 1960, bà một trong những người lãnh đạo Đồng khởi Bến Tre và là người chỉ đạo trực tiếp cuộc Đồng khởi đợt I (17/1/1960)ở ba điểm Định Thủy, Bình KhánhPhước Hiệp (thuộc huyện Mỏ Cày Nam hiện nay) thắng lợi, mở đầu cho phong trào Đồng khởi trong tỉnh và toàn miền Nam sau này.

Sau cuộc Đồng khởi Bến Tre, bà làm Bí thư tỉnh ủy và Chủ tịch Mặt trận Giải phóng tỉnh Bến Tre.

Năm 1964, trong Đại hội dân tộc giải phóng miền Nam lần thứ nhất, bà được bầu làm Ủy viên Chủ tịch đoàn Ủy ban Trung ương mặt trận. Năm 1965,bà giữ chức Phó Tư lệnh quân Giải phóng miền Nam; tại đại hộp Phụ nữ toàn miền Nam, bà làm Hội trưởng Hội Liên hiệp Phụ nữ Giải phóng miền Nam. Năm 1974, bà được phong quân hàm Thiếu tướng quân đội nhân dân Việt Nam.

Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng (sau năm 1975), bà giữ nhiều chức vụ quan trọng của Đảng và Nhà nước như: Ủy viên Trung ương Đảng khóa IV,V,VI; Đại biểu Quốc hội khóa IV,V,VI; Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam. Từ 1987 đến 1992, bà giữ chức Phó Chủ tịch Hội đồng Nhà nước,...

Ngày 26 tháng 8 năm 1992, bà từ trần tại Thành phố Hồ Chí Minh, hưởng thọ 72 tuổi.

Vinh danh[sửa | sửa mã nguồn]

Đền thờ Nguyễn Thị Định tại ấp Phong Điền (Lương Hòa, Giồng Trôm)

Ngày 30 tháng 8 năm 1995, bà Nguyễn Thị Định được Chủ tịch nước truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Năm 1968, Bà được nhận Giải thưởng Hòa bình Lenin của Liên Xô trao tặng.

Sau khi bà mất, đền thờ bà được lập tại ấp Phong Điền, xã Lương Hòa, huyện Giồng Trôm. Trong đền thờ có tượng đồng chân dung bà, tượng có chiều cao 1,75 m, nặng 1.025 kg, đặt trên bệ thờ cao 1,5 m do Bộ Quốc phòng trao tặng[3]. Ngoài ra, nhân dân Hát Môn (Hà Nội) cũng đã rước bát hương bà về thờ trong khu đền Hai Bà Trưng với niềm tự hào, ngưỡng mộ về một nữ tướng...[4]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Bí danh và những điều chưa biết về nữ tướng Nguyễn Thị Định”.  phiên bản tại www.bentre.gov.vn 15:00(GMT+7) ngày 04/06/2010
  2. ^ “Đôi nét về nữ tướng Nguyễn Thị Định (1920-1992)”. Truy cập ngày 14 tháng 3 năm 2014. 
  3. ^ “Bến Tre: khánh thành tượng đồng nữ tướng Nguyễn Thị Định”.  phiên bản tại Vietbao.vn 11:26(GMT+7) ngày 10/11/2010
  4. ^ Xem thêm: [1].

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]