Nguyễn Thị Bích Châu

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Chế Thắng phu nhân
制胜夫人
Thông tin chung
Phu quân Trần Duệ Tông
Tên đầy đủ Nguyễn Thị Bích Châu
tự: Bích Lưu (碧琉)
Tước hiệu Cung nhân (宫人)
Thần phi (宸妃)
Thụy hiệu Chế Thắng phu nhân (制胜夫人)
Hoàng tộc nhà Trần
Thân phụ Nguyễn Tướng Công
Sinh 1356 (?)
Nam Ðịnh
Mất 1377
Quy Nhơn
An táng Cửa Khẩu, bến Kỳ La, huyện Kỳ Hoa thuộc Châu Hoan

Nguyễn Thị Bích Châu (chữ Hán: 阮氏碧珠, 1356 - 1377), là một cung phi của vua Trần Duệ Tông.

Bà có tài thơ văn, lại nhìn xa trông rộng, từng dâng "Kê minh thập sách" (Mười kế sách trị nước) để can gián Trần Duệ Tông bỏ qua việc chinh chiến mà củng cố đất nước, nhưng nhà vua không nghe, dẫn đến kết cục bi thảm.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Bà quê ở huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định con gái đại thần Nguyễn Tướng Công. Bà được cha mẹ nâng niu đặt tên Bích Châu (碧珠), tự là Bích Lưu (碧琉). Ngụ ý con gái của ông bà quí giá sánh với châu ngọc, lưu ly ở trên đời.

Bà sớm nổi tiếng thông tuệ, hiểu văn chương, biết thi phú, thạo âm luật, lại có dung mạo xinh đẹp, nên rất nổi tiếng trong vùng.

Năm 1373, bà được Trần Duệ Tông tuyển làm cung nhân, lúc đàn ca, khi ngâm vịnh, được nhà vua rất đỗi thương yêu, gọi là Nguyễn Cơ (阮姬), ái phi Bích Lưu hay ái phi Bích Châu.

Các giai thoại[sửa | sửa mã nguồn]

Ứng đối thơ ca[sửa | sửa mã nguồn]

Một hôm, nhân tiết trung thu, bà bày tiệc nhỏ trên gác tía, chung quanh treo đèn lồng sắc trắng chen đủ màu rất đẹp.

Duệ Tông tỏ vẻ hài lòng hết ngắm trăng lại ngắm đèn, bỗng nhà vua cao hứng ra câu đối:

"Trời thu gác tía treo đèn bạc, quế đỏ trong trăng"

Hàng quan dự tiệc đều buông đũa suy nghĩ. Họ đang mải miết tìm vần thì bà đã chắp tay, cất tiếng:

"Sắc xuân đài trang mở gương báu, phù dung đáy nước"

Vua đắc ý khen hay và thưởng cho đôi "ngọc long kim nhĩ" (hoa tai vàng cẩn ngọc hình rồng nổi) và nhân đó lại đặt biệt hiệu cho bà là Phù Dung (芙蓉).

Kê minh thập sách[sửa | sửa mã nguồn]

Sau một thời gian, bà Bích Châu nhận thất đức quân vương tính nóng nảy, thiếu bản lĩnh, triều chinh đang có nguy cơ rạn nứt suy sụp, bà đăm chiêu chú tâm soạn thảo bản điều trần dâng vua, nhan đề: Kê minh thập sách - nêu 10 kế sách trị nước an dân. Đại ý mượn tiếng gà gáy sáng để thức tỉnh nhà vua, với những lời tâm huyết được trải ra từng câu, ví như:

Nhất viết, phù quốc bản, hà bạo khứ tắc nhân tâm
Tứ viết - thải nhũng lại dĩ tính dân ngự

Dịch nghĩa:

Điều một - bền gốc nước, trừ kẻ bạo thỉ dân chúng được yên
Điều bốn - đuổi bọn quan lại tham nhũng để bớt vơ vét của dân

Xem xong bản điều trần của ái phi Bích Châu, nhà vua cảm kích vỗ trán thốt lên:

Không ngờ ái phi lại thông tuệ đến thế? May cho trong cung của trẫm xuất hiện một bậc Từ phi [1]

Nhưng sau đó, bản điều trần ấy không được vua quan tâm đến nên chẳng thực hiện một điều nào, thật đáng tiếc.

Cái chết[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1376, đất nước ta bị chúa Chiêm Thành Chế Bồng Nga thường sang gây hấn quấy rối. Mùa Đông năm đó giặc lại tràn sâu vào lãnh địa của ta phá phách rất hung bạo. Vua Trần Duệ Tông giận dữ xuống chiếu ngự giá thân chinh đi dẹp giặc. bà Bích Châu bồn chồng lo lắng dâng biểu khuyên can.

Rồi bà lại viết tiếp đoạn ngắn nhắc nhở nhà vua: "…Việc trị đạo nước trước gốc sau ngọn, xin nghỉ binh cho dân chúng yên hàn. Trị cái rắn nên dùng cái mềm, phục rợ xa cốt lất đức… Đó là thượng sách, xin quan gia xét đoán cho minh."

Bài biểu dâng lên cũng không lay chuyển nổi nhà vua. Cung phi Bích Châu buồn lo than thở: "…Nghĩa lớn là vua tôi, ái tình là vợ chồng. Vậy mà không giỏi khuyên can để giữ nền bình trị, không biết khéo lời để ngăn lòng hiếu chiến, như thế ta đã là người vô dụng chăng?" Biết nhà vua nhất định không chịu nghe, bà đành xin đi theo hộ giá.

Thuyết thứ nhất[sửa | sửa mã nguồn]

Khi quan quân nhà Trần đến cửa Thị Nại (Quy Nhơn) vua Chiêm là Chế Bồng Nga cho sứ giả đem vàng ngọc tới quan quân ta để trá hàng, nhưng sau đó lại bất ngờ tiến đánh vào lúc nửa đêm. Quân của Trần Duệ Tông bị tấn công bất ngờ, long thể nhà vua lại bất an, Nguyễn Thị Bích Châu cưỡi ngựa tả xung hữu đột cầm quân xung trận và không may bị trúng tên độc sau đó từ trần.

Ba ngày sau vì vết thương quá nặng nhà vua cũng băng hà, quân nhà Trần rút về kinh đô khi tới địa điểm Châu Hoan vì sóng to gió lớn tàu thuyền phải ghé vào vũng Ô Tôn (Vũng Áng). Lúc này vua Trần Phế Đế mới lên ngôi nghe tin liền xuống chiếu rước linh cữu nhà vua về bằng đường bộ còn linh cữu Thần phi đi bằng đường biển. Sau mấy ngày thời tiết không thuận lợi triều đình xuống chiếu cho an táng Thần phi tại Cửa Khẩu, bến Kỳ La huyện Kỳ Hoa thuộc Châu Hoan.

Thuyết thứ hai[sửa | sửa mã nguồn]

Quân Trần buổi xuất binh ngày ấy cờ xí rợp trời, chiêng trống dậy đất, truyền rằng trùng trùng lớp lớp, binh sĩ gươm giáo sáng loáng, hùng khí chất ngất từng mây. Nhưng khi đoàn thuyền chiến vừa đến cửa bể Kỳ Hoa (Kỳ Anh, Nghệ Tĩnh) (nay là Kỳ Lợi, Kỳ Anh, Hà Tĩnh) trời bỗng nổi cơn phong ba bão táp. Đoàn thuyền đành tạm neo ngay lại đấy. Bởi mặt biển thường nổi sóng cao và xoáy lốc, ngay sát bờ đã là dãy vực thẳm đầy đá nhọn, ra càng xa thì vực càng sâu, lòng biển lởm chởm hàng khối đá ngầm.

Binh thuyền phải vất vả thương tổn khá nhiều mới ràng nổi dây neo. Nhưng cơn dông bão vẫn dai dẳng càng lúc càng dữ dội hơn. Đoàn thuyền chiến nhấp nhô đập chúi vào nhau rầm rầm. Nhiều cái bị đứt dây, lao đi vùn vụt đâm vào đá vỡ toang. Quân lính lớp chết, lớp kêu la chới với. Số còn sống ai nấy đều kinh hãi nản lòng. Nhà vua nhất quyết đợi tan cơn bão sẽ tiến binh tiếp.

Đêm ấy, vua Duệ Tông mộng thấy một vị thần xưng là Nam Minh đô đốc, thủ hạ của Quảng Lợi đại vương, muốn xin vua ban cho một người thiếp, nếu được như ý nguyện, mới làm cho bể yên, sóng lặng để thuyền vua đi qua. Vua sợ hãi, vội cho đòi các quan tướng và phi tần đến chỗ ngự tẩm, kể lại giấc mơ. Trong khi các quan tướng chưa biết ứng đối thế nào, thì Bích Châu từ sau trướng bước ra, nói:

"Việc linh ứng của thần nhân như vậy là rõ ràng, chẳng còn nghi ngờ gì nữa. Tiện thiếp tình nguyện liều tấm thân bèo bọt này để chu toàn cho đoàn ngự giá và quan quân".

Vua Duệ Tông bàng hoàng chưa kịp phán bảo cản ngăn thì bà Bích Châu đã nhanh nhẹn quay ra thuyền lệnh: "… Các quan mau mau sửa soạn lễ vật cúng thần biển, kính báo thời khắc thiếp tôi được nhà vua cử làm sứ giả đi gặp thần biển xin sóng lặng bể yên phù trợ cho vua quan, quân lính nhà Trần được chiến thắng dịp này, đem bình an về cho đất nước".

Bà vừa dứt tiếng thì từ nhà vua đến các quan có mặt quanh đó đều sửng sốt, nghẹn lời… Mặc hết những lời can ngăn, bà Bích Châu vẫn một mực tha thiết tâu xin cho bà có dịp được vinh hạnh phò vua, giúp quân, đền nợ nước. Không làm sao hơn, tất cả đều nén lòng nghe theo ý chí cương quyết của cung phi Bích Châu. Một cung nữ tài sắc, mới kề cận nhà vua được bốn năm, được vua Duệ Tông sủng ái rất mực như vậy mà dám lìa bỏ tất cả, can đảm hy sinh tính mạng thì thật là một việc làm quá phi thường.

Chiếc thuyền rồng chao đảo ngả nghiêng. Bà Bích Châu thản để thị nữ xông trầm, trang điểm cho mình. Thoáng chốc, bà đã trâm thoa, xiêm gấm, hài thêu lộng lẫy bước ra. Trước mắt mọi người lúc này, vẻ đẹp của bà Bích Châu đang tỏa ánh hào quang như một vị thiên thần. Phải, chính đó là một vị ái phi mới 20 tuổi của nhà vua, giai nhân tuyệt sắc ấy đang đứng ở vị thế là một nữ dũng tướng của quan quân triều Trần Duệ Tông.

Vua Duệ Tông xót trút bỏ giáp trụ, thương cảm trong lớp hoàng bào. Ngài trịnh trọng đội mũ Triều thiên[2] để kính cẩn đưa tiễn bà ái phi dũng cảm ra đi. Ngài truy tặng cho bà làm Thần phi (宸妃).

Mặc cho sóng đánh tối tấp, nước tràn lênh láng, bà Bích Châu vẫn tươi tắn đến sụp quì lạy nhà vua, cầu chúc nhà vua bình tĩnh và đại thắng, rồi quay về hướng Bắc lạy cha mẹ, vái chào tử biệt hàng quan quân, trang nghiêm đến ngồi gọn vào trong lòng chiếc thuyền thoi nhỏ nhắn có cắm đại hoàng kỳ (cờ nhà vua). Chiếc thuyền được quan quân thòng dây thả từ từ xuống biển, giữa những cơn sóng thần liên tiếp quật nước lên cao. Bà Bích Châu bình tĩnh nắm dây nhắm mắt.

Vừa đụng nước, chiếc thuyền lập tức quay vòng ngụp lặn với sóng cả rồi chìm lỉm mất hút. Đem theo một trái tim rực rỡ ánh châu ngọc lưu ly nhập cõi thuỷ tận.

Hai ngày sau bão mới ngớt, xác phu nhân Bích Châu nổi trên mặt biển, vẫn uy nghi trong bộ triều phục, nhấp nhô theo làn sóng bạc trôi dần vào bờ, được dân làng vớt lên rước đi an táng tại làng Kỳ Hoa. Cũng là lúc mà đoàn thuyền chiến của vua Trần Duệ Tông đã lướt tiến khá xa, chở đầy những bầu máu nóng sẵn sáng lao vào trận tiền với quyết tâm diệt giặc giữ yên bờ cõi, đền bù tâm nguyện của phu nhân Bích Châu trước giờ tử biệt.

Thế nhưng, vì Trần Duệ Tông không nghe lời can gián, vẫn cho quân tiến sâu vào động Y Mang, đất Chiêm, nên bất ngờ bị trúng mưu của giặc Bà Ma, một tướng của Chế Bồng Nga, toàn quân tan rã. Vua tử trận ở Đồ Bàn (Quy Nhơn ngày nay). Sử ghi đó là ngày 23 tháng Giêng năm Đinh Tỵ (1377).

Tôn thờ[sửa | sửa mã nguồn]

Đến nay, tại xã Kỳ Ninh và làng Hải Phong, Kỳ Lợi vẫn còn thờ thờ thần phi Bích Châu.

Thần phi Nguyễn Thị Bích Châu đã ra đi từ gần 7 thế kỷ qua, nhưng tấm gương hi sinh vì nước, vì dân của bà vẫn còn chói sáng đến muôn đời sau.

Phần sáng tác của bà Bích Châu, tuy còn lại rất ít, nhưng chỉ với bài Kê minh thập sách đã chứng tỏ ngòi bút sắc bén của cung phi nữ sĩ Bích Châu đáng bậc nữ lưu văn học dưới triều Trần Duệ Tông.

Nữ sĩ cung phi Bích Châu đã thực sự đóng góp vào nền văn học nước nhà nói chung và nền văn học viết từ đời Trần của giới nữ nói riêng, một áng văn bác học tinh tế. Lời văn hùng hồn và thiết thực có giá trị như một ngọn đuốc soi đường cứu đất nước một cách tích cực, tỏ rõ tâm hồn tha thiết yêu nước thương dân của nữ sĩ cung phi Bích Châu.

Truy phong[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1471, Lê Thánh Tông đi đánh Chiêm Thành, qua chỗ bà Bích Châu đã trầm mình. Bà hiện lên báo mộng cho vua Lê và xin làm lễ giải thoát. Biết chuyện bà Bích Châu, hôm sau, nhà vua liền viết một tờ hịch hạch tội Nam Minh đô đốc, sai thả xuống biển. Truyền thuyết kể lập tức vị này bị chém chết, xác nổi lên mặt nước. Sau khi thắng trận trở về, vua hạ chiếu lập đền, cấp ruộng tế và người trông coi, sắc phong cho bà là Chế Thắng, nên đền được gọi là Chế Thắng Phu Nhân.

Hàng năm, vào 12/2 âm lịch là ngày giỗ.

Vua Lê Thánh Tông còn làm một bài thơ điếu bà Bích Châu:

Nàng xưa cung nữ của Hy Lăng
Vì nước lâm nguy, quyết xả thân
Một trận gió yêu gây sóng cả
Hồn nương bến bãi suốt đêm xuân
Bỗng dưng sông lạnh vùi thân gái
Biết chốn nào đây viếng nữ thần?
Chán nhỉ, vạn ngàn quân tướng mạnh
Chẳng bằng tờ hịch gã thư sinh!

Sáu câu đầu vua ca tụng đức xả thân cứu nước của bà Bích Châu. Hai câu kết có ngụ ý chê vua Duệ Tông và tự đề cao mình. Có lẽ vì vậy hương linh của bà Bích Châu không vui, vì chạm vào tình cảm kính trọng chồng.

Vì thế, khi vua Lê Thánh Tông thắng trận, lúc khải hoàn qua đây, bà lại báo mộng, tạ ơn vua đã cứu mình, với lời van xin: "Bài thơ nhà vua đề ở Đền lời ý đều hay, duy hai câu kết có ý phẩm bình chuyện cũ, khiến lòng thiếp không được yên!". Nhà vua sửa ngay hai câu kết thành: Vạn cổ cương thường lòng chẳng thẹn/ Thư cưu giỡn sóng dưới chân đền.

Tác phẩm[sửa | sửa mã nguồn]

Bài Kê minh thập sách, được phiêm âm như sau:

Nhất viết: Phù quốc bản, hà bạo khứ, tắc nhân tâm khả an.
Nhì viết: Thủ cựu qui, phiền nhiễu cách tắc triều cường bất vẩn.
Tam viết: Ức quyền hành dĩ trừ quốc đố.
Tứ viết: Thải nhũng lại, dĩ tính dân ngự.
Ngũ viết: Nguyện chấn nho phong, sử tước hoả dữ nhật nguyện nhị tịnh chiếu.
Lục viết: Nguyện cầu trực gián, hội thành môn dữ ngôn lộ nhi tịnh khai.
Thất viết: Luyện binh đương tiên dũng lực nhi tả thân tài.
Bát viết: Tuyển tướng nghi hậu thế gia, nhi tiên thao lược.
Cửu viết: Khi giới qui kỳ khiên nhuệ, bất tài thi hoa.
Thập viết: Trận pháp giáo dĩ chỉnh tề, hà tu vũ đạo.

Dịch nghĩa:

Điều một: Bền gốc nước, trừ kẻ bạo thì dân chúng được yên.
Điều hai: Giữ nếp xưa, phiền nhiễu nên bỏ thì triều cương không rối.
Điều ba: Ngăn kẻ lạm quyền để trừ mọt nước.
Điều bốn: Loại bọn quan tham nhũng để bớt vơ vét của dân.
Điều năm: Mở lối nho phong để ngọn lửa đóm được soi cùng mặt trời mặt trăng.
Điều sáu: Tìm những lời trực gián để đường ngôn luận được rộng mở như cửa thành.
Điều bảy: Rèn luyện binh sĩ cần lất hạng có dũng lực hơn là hạng vóc vạc lớn.
Điều tám: Chọn tướng trước nên lựa người thao lược sau mới đến là bậc thế gia.
Điều chín: Khí giới cốt tinh nhuệ hơn là lòe loẹt.
Điều mười: Tập trận pháp cần chỉnh tề không cần múa nhảy.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Từ Hiền phi (chữ Hán: 徐賢妃, 627 - 650) tên là Từ Huệ (徐惠), người tỉnh Chiết Giang, là cung tần của Đường Thái Tông. Ban đầu là Tài nhân, Tiệp dư tiến phong thành Sung dung. Khi Đường Thái Tông chết, Từ Huệ chết theo, truy phong làm Hiền phi. Theo sử sách, bà thường hay đàm đạo chuyện chính trị cùng Thái Tông, rất được Thái Tông tín nhiệm.
  2. ^ Loại mũ cánh chuồn, mũ Ô Sa mà 2 cánh của nó chỉ lên trên trời. Một loại mũ xuất xứ từ Trung Hoa, sau được các vua nhà Trần dùng

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]