Nguyễn Văn Đông

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Nguyễn Văn Đông
Nguyen Van Dong.png
Thông tin nghệ sĩ
Tên khai sinh Nguyễn Văn Đông
Sinh 15 tháng 3, 1932 (82 tuổi)
Sài Gòn
Nghề nghiệp Nhạc sĩ
Thể loại Tình khúc 1954-1975, nhạc vàng
Ca khúc tiêu biểu Chiều mưa biên giới, Hải ngoại thương ca, Khúc tình ca hàng hàng lớp lớp, Nhớ một chiều xuân, Sắc hoa màu nhớ, Khi đã yêu
Ca sĩ trình bày thành công Hà Thanh

Nguyễn Văn Đông (sinh 1932), bút danh Phượng Linh, Phương Hà, Vì DânĐông Phương Tử, là một nhạc sĩ của dòng nhạc tình ca Việt Nam. Ông là tác giả của nhiều ca khúc tân nhạc nổi tiếng như Chiều mưa biên giới, Hải ngoại thương ca, Khúc tình ca hàng hàng lớp lớp. Ngoài ra ông còn là soạn giả của một số tuồng cải lương thịnh hành như Tiếng hạc trong trăng, Nửa đời hương phấn.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Ông sinh ngày 15 tháng 3 năm 1932 tại quận 1, Sài Gòn nhưng nguyên quán của ông ở Lợi Thuận, Bến Cầu, Tây Ninh. Thuở bé, do điều kiện gia đình, ông học ở nhà dưới sự hướng dẫn của thầy học. Sau ông theo học bậc trung học tại trường Huỳnh Khương Ninh thuộc Đa Kao, Tân Ðịnh, Sài Gòn.[1]

Năm 1945, chính quyền Pháp đóng cửa trường Huỳnh Khương Ninh, với lý do trường có nhiều giáo viên và học sinh hoạt động trong phong trào đòi Pháp trao trả độc lập cho Việt Nam. Năm 1946, gia đình gửi ông vào trường Thiếu sinh quân Việt Nam ở Vũng Tàu, khi đấy ông mới 14 tuổi.[2]

Binh nghiệp và nhạc nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Thời gian tại trường Thiếu sinh quân Vũng Tàu, ông được học nhạc với các giảng viên âm nhạc của Học viện Âm nhạc Quốc gia Pháp sang giảng dạy. Chỉ sau một thời gian ngắn sau, ông trở thành một thành viên của ban quân nhạc thiếu sinh quân, học cách sử dụng nhiều loại nhạc cụ khác nhau. Năm 16 tuổi, ông đã có những sáng tác đầu tay như "Thiếu sinh quân hành khúc", "Tạm biệt mùa hè"...[1]

Sau khi tốt nghiệp trường Thiếu sinh quân Vũng Tàu, ông nhập ngũ chính thức vào Quân đội Quốc gia Việt Nam. Năm 1951, ông được cử theo học khóa 4 trường Võ bị Sĩ quan Vũng Tàu và tốt nghiệp thủ khoa với cấp bậc Thiếu úy vào năm 1952. Một năm sau, năm 1953, ông được cử đi học khóa huấn luyện “Ðại đội trưởng” tại trường Võ bị Ðà Lạt. Năm 1954, ông được gửi ra Hà Nội theo học khóa “Tiểu đoàn trưởng” tại trường chiến thuật Hà Nội. Ra trường, ông được chỉ định vào chức vụ Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn trọng pháo 553, trở thành Tiểu đoàn trưởng trẻ nhất của Quân đội Quốc gia Việt Nam khi mới 24 tuổi.[2]

Sau Hiệp định Genève, 1954, ông chuyển vào Nam, phục vụ tại Phân khu Đồng Tháp Mười với chức vụ Trung úy Trưởng phòng Hành quân. Thời gian này, ông còn kiêm nhiệm chức Trưởng phòng 3 (Tác chiến) của Phân khu, dưới quyền Đại tá Nguyễn Văn Là, tham gia Chiến dịch Thoại Ngọc Hầu 1956. Bấy giờ, tướng Dương Văn Minh là Tư lệnh chiến dịch, từng đến bắt tay ông tỏ lòng ngưỡng mộ. Bức ảnh chụp tướng Minh bắt tay ông đã được in trên trang nhất của báo Chiến sĩ Cộng hòa.[1] Ông thăng đến chức đại tá trong Quân lực Việt Nam Cộng hòa.

Nguyễn Văn Đông từng nhiều năm hoạt động trong lĩnh vực âm nhạc ở Sài Gòn trước 30 tháng 4 năm 1975. Trong thập niên 1950, Nguyễn Văn Đông nổi tiếng khi ông là Truởng Đoàn văn nghệ Vì Dân với thành phần ca nhạc sĩ tên tuổi như Mạnh Phát, Minh Kỳ, Hoài Linh, Thu Hồ, Quách Đàm, Minh Diệu, Khánh Ngọc và các nghệ sĩ danh tiếng như Kim Cương, Vân Hùng, Ba Vân, Bảy Xê, Trần Văn Trạch, diễn viên điện ảnh Trang Thiên Kim... Ông đã tổ chức và điều khiển các chương trình đại nhạc hội tại Sài Gòn và khắp các tỉnh của Việt Nam Cộng hòa.

Từ năm 1958, Nguyễn Văn Đông là trưởng ban ca nhạc Tiếng Thời gian của Đài Phát thanh Sài Gòn, gồm những danh ca, nhạc sĩ danh tiếng như Lệ Thanh, Hà Thanh, Minh Diệu, Khánh Ngọc, Mạnh Phát, Thu Hồ, Quách Đàm, Anh Ngọc... Năm sau ông là trưởng ban tổ chức Đại hội thi đua Văn nghệ toàn quốc ở cấp quốc gia, đã huy tụ trên 40 đoàn văn nghệ đại diện cho cả miền Nam cùng tranh giải suốt 15 ngày đêm tại Sài Gòn. Ông cũng từng nhận giải âm nhạc quốc gia, một giải thường do Đệ nhất phu nhân Trần Lệ Xuân trao tặng.

Nguyễn Văn Đông còn là giám đốc hãng băng đĩa nhạc Continental và Sơn Ca nổi tiếng, cộng tác với những nhạc sĩ tên tuổi như Lê Văn Thiện, Văn Phụng, Nghiêm Phú Phi, Y Vân... Hai cơ sở của ông cho ra đời nhiều chương trình tân nhạc cũng như cổ nhạc gồm các vở tuồngcải lương. Chính Nguyễn Văn Đông là người đã tiên phong thực hiện album riêng cho từng ca sĩ mà trước đó chưa từng ai làm. Ông đã thực hiện loạt băng nhạc Sơn Ca nổi tiếng trong đó có Khánh Ly với băng nhạc Sơn Ca 7, Thái Thanhban Thăng Long - Sơn Ca 10, Lệ Thu - Sơn Ca 9, Phương Dung - Sơn Ca 5 và 11, Giao Linh - Sơn Ca 6, Sơn Ca - Sơn Ca 8... và một số album riêng cho Trịnh Công Sơn.

Vì từng trong quân ngũ Nguyễn Văn Đông đã viết nhiều nhạc phẩm về người lính miền Nam thời đó như "Chiều mưa biên giới," "Phiên gác đêm xuân," "Mấy dặm sơn khê," "Khúc tình ca hàng hàng lớp lớp," "Lá thư người lính"...

Nhạc phẩm "Phiên gác đêm xuân" được Nguyễn Văn Đông viết vào đêm 30 Tết năm 1956 khi ông phải xa nhà, gác phiên ở khu 9 Đồng Tháp Mười. "Chiều mưa biên giới" ra đời năm 1956 và nổi tiếng qua tiếng hát của Trần Văn Trạch. "Chiều mưa biên giới" và "Mấy dặm sơn khê" đã từng gây cho ông nhiều khó khăn khi bị Bộ Thông tin Việt Nam Cộng hòa ra quyết định cấm phổ biến vì lý do phản chiến vào năm 1961. Bài hát "Khúc tình ca hàng hàng lớp lớp" (còn mang tên "Hàng hàng lớp lớp") nổi tiếng qua tiếng hát của Hà Thanh nhưng thường bị nhầm với nhạc phẩm Khúc tình Kinh Kha của Phạm Duy. Hà Thanh cũng chính là ca sĩ trình bày thành công nhất các nhạc phẩm của ông.[cần dẫn nguồn]

Nguyễn Văn Đông còn có nhiều bút danh khác như Phượng Linh, Phương Hà trên một số nhạc phẩm tình cảm như '"Khi đã yêu," "Thầm kín," "Niềm đau dĩ vãng," "Nhớ một chiều xuân"... Với bút danh Đông Phương Tử và Phượng Linh, ông đã viết nhạc nền và đạo diễn cho trên 50 vở tuồng, cải lương nổi tiếng ở miền Nam trước năm 1975 như Nửa đời hương phấn, Đoạn tuyệt, Tiếng hạc trong trăng, Mưa rừng...

Biến cố 1975 và được công nhận trở lại 29 năm sau[sửa | sửa mã nguồn]

Sau 30 tháng 4 năm 1975, Nguyễn Văn Đông bị bắt đi học tập cải tạo 10 năm và ngừng sáng tác từ đó. Hiện ông sống trầm lặng tại Phú Nhuận, thành phố Hồ Chí Minh cùng gia đình.

Tháng 9 năm 2004, Cục Nghệ thuật Biểu diễn thuộc Bộ Văn hóa Thông tin Việt Nam cho phép phổ biến mười bài hát của ông, gồm: "Niềm đau dĩ vãng", "Về mái nhà xưa", "Cay đắng tình đời", "Tình đầu xót xa", "Vô thường", "Đom đóm", "Nhớ một chiều xuân", "Hải ngoại thương ca", "Tình cố hương" và "Khúc xuân ca".[3] Tháng 10 năm 2004, thêm chín ca khúc khác của Nguyễn Văn Đông được tái phổ biến rộng rãi thông qua việc phát hành đĩa nhạc Thác Đa - Tình yêu của tôi, gồm có "Trái tim Việt Nam", "Bài ca hạnh phúc", "Người tình yêu dấu", "Khi đã yêu", "Thầm kín", "Núi và gió", "Nếu có em bên anh", "Bông hồng cài áo" và "Đồng Tháp duyên gì".[4]

Một số tác phẩm[sửa | sửa mã nguồn]

Nguyễn Văn Đông

  • Anh
  • Anh trước, tôi sau
  • Bà mẹ hai con
  • Bài ca hạnh phúc
  • Bến đò biên giới
  • Bông hồng cài áo trắng[5]
  • Chiều mưa biên giới
  • Chúc tết[6]
  • Chuyện tình hoa pensée
  • Cuốn theo chiều gió
  • Cung thương ngày cũ[7]
  • Dáng xuân xưa
  • Đêm buồn[8]
  • Đêm thánh huy hoàng
  • Đôi bờ thương nhớ
  • Đồng Tháp duyên gì[9]
  • Hải ngoại thương ca
  • Hiến dâng
  • Khúc tình ca hàng hàng lớp lớp
  • Khúc xuân ca
  • Lá thư người lính chiến
  • Lời hứa ban đầu[10]
  • Màu xanh Noel[10]
  • Mấy dặm sơn khê
  • Mùa sao sáng
  • Ngày mai anh về
  • Ngày vui pháo nhuộm đường
  • Người tình yêu dấu
  • Nguyện cầu trên bến ngàn năm
  • Nếu có em bên anh
  • Nhớ một chiều xuân
  • Nhớ người viễn xứ[11]
  • Núi và gió
  • Phiên gác đêm xuân
  • Sắc hoa màu nhớ[9]
  • Thu hoài cảm
  • Tình cố hương
  • Tình đầu xót xa
  • Trái tim Việt Nam
  • Truông mây
  • Về mái nhà xưa
  • Vô thường
  • Việt Nam hôm nay[10]
  • Xa người mình yêu[10]
  • Xin chúa thấu lòng con

Phượng Linh

  • Bóng nhỏ giáo đường
  • Cay đắng tình đời
  • Chiếc bóng công viên
  • Cô nữ sinh Gia Long
  • Dạ sầu
  • Đoàn chim cánh sắt[12]
  • Đom đóm
  • Đoạn tuyệt
  • Giáo đường chiều chủ nhật
  • Khi đã yêu
  • Lời giã biệt
  • Nỗi buồn duyên kiếp
  • Niềm đau dĩ vãng
  • Thầm kín (Bẽ bàng)
  • Thương muộn
  • Thương về mùa đông biên giới
  • Tình người ngoại đạo
  • Xin đừng trách anh

Soạn lời Việt:

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â Trường Kỳ (26 tháng 11 năm 2008). “Nguyễn Văn Đông: Giữa binh nghiệp và âm nhạc”. TiVi Tuần-san. 
  2. ^ a ă Du Tử Lê (chưa rõ ngày). “Binh nghiệp và nhạc nghiệp của Nguyễn Văn Ðông”. Người Việt. Bản gốc lưu trữ vào ngày chưa rõ. 
  3. ^ L.Minh (27 tháng 9 năm 2004). “Cho phép phổ biến 10 ca khúc của nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông”. Tuổi trẻ online. Truy cập ngày 21 tháng 11 năm 2012. 
  4. ^ Vietnamnet (4 tháng 10 năm 2004). “Album giới thiệu những tình khúc Nguyễn Văn Đông”. Vietbao.vn đăng lại bài của Vietnamnet. Truy cập ngày 21 tháng 11 năm 2012. 
  5. ^ khác với Bông hồng cài áo của Phạm Thế Mỹ.
  6. ^ ký bút hiệu Đông Phương Tử.
  7. ^ đồng sáng tác với Mạnh Phát.
  8. ^ đồng sáng tác với Lam Phương.
  9. ^ a ă ký bút hiệu Vì Dân và viết chung với Minh Kỳ.
  10. ^ a ă â b ký bút hiệu Phương Hà.
  11. ^ đồng sáng tác với Lâm Tuyền.
  12. ^ đồng sáng tác với Ngọc Sơn.