Nguyễn Văn Vĩnh

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Nguyễn Văn Vĩnh
Chân dung nhà văn
Sinh 1882
Hà Nội, Việt Nam
Mất 1936 (lúc 54 tuổi)
Lào
Công việc Nhà báo, nhà văn

Nguyễn Văn Vĩnh (18821936) là nhà tân học, nhà báo, nhà văn, nhà phiên dịch Việt Nam, nhà chính trị Việt Nam đầu thế kỷ 20. Khi viết bài, ông ký nhiều bút danh: Tân Nam Tử, Quan Thành, Tông Gia, Lang Gia, Mũi Tẹt Tử, Đào Thị Loan,....

Cuộc đời và sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Ông sinh ngày 15 tháng 6 năm 1882 tại làng Phượng Vũ, xã Phượng Dực, huyện Thường Tín, tỉnh Hà Đông (nay thuộc huyện Phú Xuyên, thành phố Hà Nội). Vì quá nghèo, cha mẹ ông đã bỏ làng quê ra ở nhờ nhà một người họ hàng bên ngoại là bà nghè Đại Gia (tức ông nghè Phạm Huy Hổ) ở số 46 phố Hàng Giấy để kiếm sống, và cư trú dài hạn tại đây.

Năm lên 8 tuổi, ông đi chăn bò thuê ngoài bãi sông Hồng. Sau đó, gia đình ông phát hiện ở đình làng Yên Phụ (nay là Trường phổ thông cơ sở Mạc Đĩnh Chi – phố Phó Đức Chính, Hà Nội) có lớp học do thầy giáo người Pháp phụ trách, dạy các học sinh đã đỗ tú tài trở lên học thành thông ngôn (nhân viên phiên dịch). Ngồi cuối lớp kéo quạt, nhưng ông đã chăm chú nghe giảng và học lỏm. Nhờ vậy, mà ông đã nói và viết được tiếng Pháp khá thành thạo.

Được Hiệu trưởng D’Argence chú ý, đến kỳ thi tốt nghiệp, ông được phép dự thi cùng với 40 học sinh của khóa học, và đỗ thứ 12 khi mới 10 tuổi. Với tuổi tốt nghiệp quá nhỏ, Nhà trường đã đặc cách cho ông được học lại từ đầu và là học sinh chính thức, nên ông được cấp học bổng để theo học trường thông ngôn (Collège des Intreprêtes) niên khóa 1893-1896, và ông đã đỗ thủ khoa.

Năm 1896, 15 tuổi, ông được cho làm thông ngôn ở Tòa sứ Lào Cai.

Năm 1897-1905, ông chuyển về Tòa sứ Hải Phòng và Bắc Ninh (bao gồm cả Bắc Giang). Thời gian làm việc ở Hải Phòng, ông làm cộng tác viên cho tờ Courrier d’Hai Phong (Thư tín Hải Phòng) và tờ Tribune Indochinoise (Diễn đàn Đông Dương).

Được Công sứ Bắc Giang Hauser đánh giá rất cao về tài mẫn tiệp và khả năng nói tiếng Pháp của ông, nên đặc cách cho ông làm Chánh văn phòng. Năm 1906, khi viên quan này được cử làm Đốc lý Hà Nội, ông cũng được đi theo.

Dưới thời Toàn quyền Jean Baptiste Paul Beau 1902-1908, nhờ sự giúp đỡ của Hauser, Nguyễn Văn Vĩnh cùng với các bạn đồng chí hướng, lần lượt làm đơn xin thành lập Hội Trí Tri (Hà Nội), Hội Dịch sách, Hội giúp đỡ người Việt đi sang Pháp du học, Đông Kinh nghĩa thục (ông là người thảo điều lệ, viết đơn xin phép, và sau đó là giáo viên dạy chữ Quốc ngữ và tiếng Pháp của trường).

Năm 1906, ông cùng Hauser sang Pháp lo việc tổ chức gian hàng Đông Dương (Cochinchine) tại Hội chợ thuộc địa ở Marseille. Được tận mắt chứng kiến nền văn minh phương Tây, ông trở về nước với quyết tâm phát triển nền công nghiệp xuất bản mà đầu tiên là phát hành báo chí, để qua đó truyền bá chữ Quốc ngữ và bài bác các hủ tục phong kiến lạc hậu, nhằm canh tân đất nước, vì vậy ông đã xin thôi làm công chức và trở thành nhà báo tự do. Cũng trong năm này, ông là người Việt Nam đầu tiên gia nhập Hội nhân quyền Pháp

Tiếp đó, ông được F. H. Schneider mời hợp tác và in ấn tờ Đại Nam đồng văn nhật báo xuất bản bằng chữ Hán (Tờ báo hàng ngày của nước Đại Nam chung một văn tự). Năm 1907, sau khi ra được 792 số, ngày 28.3.1907, tờ báo được đổi tên là Đăng Cổ Tùng Báo (Khêu đèn gióng trống) và in bằng cả hai thứ chữ Hán và Quốc ngữ, ông được cử là Chủ bút. Đây là tờ báo tiếng Việt đầu tiên ở phần phía Bắc Việt Nam.

Lo ngại vì đường lối hoạt động của Đông Kinh nghĩa thục, thực dân Pháp ra lệnh đóng cửa trường vào tháng 11 năm 1907. Sau đó, họ còn cho bắt giam Phan Chu Trinh cùng một số các chí sĩ yêu nước là các giáo viên lãnh đạo của trường.

Nguyễn Văn Vĩnh là người Việt Nam duy nhất cùng với bốn người Pháp đồng ký tên đòi trả tự do cho Phan Chu Trinh. Việc làm này cùng với việc ông đã dịch toàn bộ bài viết từ Hán văn ra Pháp văn Đầu Pháp chính phủ thư của Phan Chu Trinh hoặc còn được gọi là Thư trước tác hậu bổ ( Lettre de PHAN CHU TRINH au gouverneur général en 1906), khiến Nguyễn Văn Vĩnh bị chính quyền thực dân gọi lên đe dọa gay gắt[1].

Với hàng loạt các vụ việc phản đối có tính vũ trang như vụ Kháng thuế Trung Kỳ (tháng 3. 1908) và vụ Hà thành đầu độc ở Hà Nội (tháng 6. 1908), thực dân Pháp đã đóng cửa Đăng cổ tùng báo, đồng thời cấm Nguyễn Văn Vĩnh diễn thuyết, lưu hành và tàng trữ các ấn phẩm của Phong trào Đông Kinh nghĩa thục.

Tuy nhiên, năm 1908, ông được bầu vào Hội đồng thành phố Hà Nội. Cùng năm này, ông xin ra tờ Notre Journal (Nhật báo của chúng ta) xuất bản bằng tiếng Pháp.

Năm 1909, ông lại xin ra tờ Notre Revue (Tạp chí của chúng ta) cũng bằng tiếng Pháp. Báo này ra được 12 số. Cùng năm đó, ông được mời vào Sài Gòn làm cố vấn cho tờ Lục tỉnh tân văn.

Năm 1913, ông trở lại Hà Nội làm Chủ bút tờ tuần báo Đông Dương tạp chí (do Schneider sáng lập vào ngày 15.3.1913). Đây là tờ báo đầu tiên ở Việt Nam quy tụ được hầu hết các nhân sĩ hàng đầu cả Nho học lẫn Tân học trong cơ quan biên tập của tờ báo, đồng thời cũng là tờ báo đầu tiên ở Việt Nam dạy người dân cách làm văn bằng chữ Quốc ngữ. Sau đó, ông được bầu vào Hội đồng Tư vấn Bắc Kỳ (sau đổi làm Viện dân biểu).

Năm 1914, ông kiêm luôn chức Chủ bút tờ Trung Bắc tân văn vẫn do Schneider sáng lập.

Sau ngày 15.9.1919, Đông Dương tạp chí ngừng xuất bản. Thay thế nó là tờ Học báo (tờ báo có chuyên đề về giáo dục, Trần Trọng Kim lo việc bài vở, Nguyễn Văn Vĩnh làm Chủ nhiệm). Cũng trong năm này, ông Vĩnh mua tờ Trung Bắc tân văn và cho ra hàng ngày (đây là tờ nhật báo đầu tiên trong lịch sử báo chí ở Việt Nam).

Năm 1927, ông cùng với E.Vayrac lập tủ sách Âu Tây tư tưởng (La pensée de l’Occident), rồi tổ chức in và phát hành các đầu sách do ông dịch thuật.

Năm 1929, ông được bầu vào Hội đồng Kinh tế và tài chính Đông Dương.

Năm 1931, ông lập tờ “ L’Annam Nouveau" (Nước Nam mới) in hoàn toàn bằng tiếng Pháp với mục đích bảo vệ chủ thuyết Trực trị do ông đề xướng và chống lại phái đối lập có chủ trương thực hiện đường lối Quân chủ Lập hiến. Đồng thời việc xuất bản bằng Pháp văn không phải xin phép chính quyền theo luật định. Ông làm Chủ nhiệm kiêm Chủ bút cho đến khi mất 1936. Tờ báo này đã đoạt được giải thưởng GRAND PRIX tại Hội chợ báo chí thuộc địa tổ chức tại Paris năm 1932.

Năm 1932, ông đi dự họp Đại Hội đồng Kinh tế Tài chính Đông Dương tại Sài Gòn. Trong một buổi họp, ông đã thay mặt giới doanh nghiệp phản đối việc chuyển đồng tiền Đông Dương từ ngân bản vị sang kim bản vị, vì điều đó chỉ có lợi cho ngân hàng Pháp, nhưng lại có hại cho nền kinh tế Đông Dương.

Khi đang họp thì Nguyễn Văn Vĩnh nhận được trát của tòa án đòi tịch biên toàn bộ gia sản vì, sau nhiều lần "mặc cả" giữa Chính quyền và Nguyễn Văn Vĩnh, nhà cầm quyền đòi Nguyễn Văn Vĩnh phải chấp nhận 3 điều kiện sau: - Chấm dứt việc đả phá Triều đình Huế và quan Thượng thư Phạm Quỳnh.

- Đồng ý vào Huế làm Thượng thư.

- Dừng toàn bộ việc viết báo.

Thay vì không chấp nhận các điều kiện trên, sẽ bị đòi nợ bằng hình thức xiết nợ (bắt buộc phải trả mặc dù khế ước vay là 20 năm) do đã vay một khoản tiền lớn của Ngân hàng Đông Dương Dùng để mở Trung tâm sách Âu Tây tư tưởng năm 1927.

Năm 1935, Chính quyền đổi ba điều kiện nêu trên với Nguyễn Văn Vĩnh còn tệ hại hơn và bắt buộc phải chọn một điều kiện, đó là:

- Chấm dứt toàn bộ việc viết !

- Chấp nhận đi tù (dù chỉ một ngày)!

- Sang Lào tìm vàng để trả nợ!

Tháng 3 năm 1936, Nguyễn Văn Vĩnh quyết định đi tìm vàng để trả nợ, ông sang Sê Pôn (Lào) với một người Pháp có tên là A. Climentte, người này lấy vợ Việt Nam, có đồn điền tại tỉnh Hưng Yên và cũng đang ngập nợ vì làm ăn thua lỗ.

Ngày 1 tháng 5 năm ấy (1936), người ta tìm thấy Nguyễn Văn Vĩnh một mình trên con thuyền độc mộc, một tay vẫn cầm bút và tay kia cầm quyển sổ, trôi giữa dòng Sê Băng Hiêng (tên một nhánh của sông Sê Pôn). Ngưòi dân địa phương đưa con thuyền cập vào chân cầu Sê Pôn để chuyển lên trạm y tế Sê Pôn cứu chữa, nhưng đã quá muộn. Nhà cầm quyền loan báo: Nguyễn Văn Vĩnh chết ngày 2 tháng 5 năm 1936 vì sốt rét và kiết lỵ (lúc ấy, ông 54 tuổi). Sau đó, thi hài Nguyễn Văn Vĩnh đã được Hội Tam điểm tổ chức đưa về Hà Nội để cử hành tang lễ trong 3 ngày, từ 6 đến 8 tháng 5 năm 1936.

Tại buổi lễ tang, đông đảo giới báo chí của cả ba kỳ đã đến tiễn đưa ông dưới dòng chữ: "Kinh viếng Ông tổ của nghề báo"[3].

Tác phẩm[sửa | sửa mã nguồn]

Theo thống kê chưa đầy đủ, những công trình của Nguyễn Văn Vĩnh gồm có:

Sáng tác[sửa | sửa mã nguồn]

Những bài luận thuyết và ký sự sau:

  • Xét tật mình (khởi đăng trên Đông Dương tạp chí từ số 6)
  • Phận làm dân (khởi đăng trên Đông Dương tạp chí từ số 48)
  • Chỉnh đốn lại cách cai trị dân xã (khởi đăng trên Đông Dương tạp chí từ số 61)
  • Nhời đàn bà (khởi đăng trên Đông Dương tạp chí từ số 5)
  • Hương Sơn hành trình (Hành trình thăm chùa Hương, đăng trên Đông Dương tạp chí từ số 41 đến 45)
  • Một tháng với những người tìm vàng (viết dở dang).

Dịch từ tiếng Pháp sang tiếng Việt[sửa | sửa mã nguồn]

  • Thơ ngụ ngôn của La Fontaine (Fables de La Fontaine)
  • Truyện trẻ con của Perrault (Les contes de Charles Perrault).
  • Mai nương Lệ cốt (Manon Lescaut), tiểu thuyết của Abbé Prévost.
  • Ba người ngự lâm pháo thủ (Les trois mouquetaires), tiểu thuyết của Alexandre Dumas.
  • Những người khốn khổ(Les Misérables), tiểu thuyết của Victor Hugo.
  • Miếng da lừa (La peau de chagrin), tiểu thuyết của Honoré de Balzac.
  • Guy-li-ve du ký (Les voyages de Gulliver), truyện của Jonathan Swift.
  • Tê-lê-mặc phiêu lưu ký (Les aventures de Télémaque), truyện của Fénélon.
  • Bốn vở kịch của Molière: Trưởng giả học làm sang (Le Bourgeois Gentilhomme), Giả đạo đức (Le misanthrope), Người bệnh tưởng (Le malade imaginaire), Lão hà tiện (L'avare).
  • Tục ca lệ (Turcaret), kịch của Lesage.
  • Truyện các danh nhân Hy lạpLa Mã (Les vies parallèles des hommes illustrés de la Grèce et de Rome)của Plutarque.
  • Rabelais của Emile Vayrac.
  • Le parfum des humanités (Sử ký thanh hoa) của Emile Vayrac.
  • Chàng Gil Blax xứ Xăngtizan (Gil Blas de Santillane), tiểu thuyết của Lesage.

Ngoài ra còn những bài dịch về: Luân lý học (khởi đăng trên Đông Dương tạp chí từ số 15) và triết học yếu lược (khởi đăng trên Đông Dương tạp chí từ số 28).

Dịch từ tiếng Việt sang tiếng Pháp[sửa | sửa mã nguồn]

Dịch từ chữ Hán sang tiếng Pháp[sửa | sửa mã nguồn]

  • Tiền Xích BíchHậu Xích Bích, đăng trên Đông Dương tạp chí, lớp mới, số 66-68.

Câu nói nổi tiếng của ông[sửa | sửa mã nguồn]

Nước Nam ta mai sau này hay dở cũng ở chữ Quốc ngữ [1]

Nhận xét sơ lược[sửa | sửa mã nguồn]

Về tư tưởng: Ông là người học rộng, biết nhiều, lại có lịch duyệt, thiệp liệp[2] tư tưởng học thuật của Âu Tây, nhưng cũng am hiểu tín ngưỡng phong tục của dân ta, muốn đem những quan niệm phương pháp mới nào hợp thời để truyền bá trong dân chúng, nhưng cũng chịu khó tìm tòi và biểu lộ cái dở, cái xấu cũng như cái hay, cái ý nghĩa của các chế độ, tục lệ xưa...
Về văn từ: Văn ông bình thường giản dị, có tính cách phổ thông, tuy có châm chước theo cú pháp của văn tây mà vẫn giữ được đặc tính của văn ta. Ông lại chịu khó moi móc trong kho thành ngữ, tục ngữ của ta những từ ngữ có màu mẽ để diễn đạt ý tưởng (cả những ý tưởng mới của Âu Tây) thành ra đọc văn dịch của ông tưởng chừng như đọc văn nguyên tác bằng tiếng Nam vậy. Kể về văn dịch tiểu thuyết thì thực ông là người có biệt tài, ít kẻ sánh kịp vậy[3].
Nguyễn Văn Vĩnh là người rất có công với quốc văn. Nhưng không phải chỉ nhờ ở những sách dịch…còn là vì ông đã đứng chủ trương một cơ quan văn học (ý nói đến Đông Dương tạp chí) vào buổi mà đối với văn chương, mọi người hãy còn bỡ ngỡ. Ông đã hội họp được những cây bút có tiếng, gây được phong trào yêu mến quốc văn trong giới thanh niên trí thức đương thời...[4]
Về tư tưởng, Nguyễn Văn Vĩnh có thể coi là người tiêu biểu cho một phong trào duy tân cấp tiến tại nước Việt vào đầu thế kỷ 20. Về đường văn học, ông quả là chiến sĩ đấu tranh không mệt mỏi cho việc truyền bá chữ Quốc ngữ. Và ông đã làm được trong bước đầu một tờ báo rất bổ ích cho văn mới lúc phôi thai, đó là tờ Đông Dương tạp chí[5]
Có lẽ cái mẫu quốc Pháp với mọi vẻ huy hoàng (khi ông tham dự đấu xảo Marseille), đã làm ông nảy ra ý định dấn thân. Cho nên khi về nước, thay vì tiếp tục cộng tác với Pháp để được vinh thân phì gia, ông lại bỏ nghề quan trường, để dấn thân vào cuộc đấu tranh văn hóa, mà khí giới của ông là báo chí và ấn phẩm...Có thể thấy ở Nguyễn Văn Vĩnh, một thế hệ mới mà tâm tưởng khác hẳn thế hệ xưa. Trước đây, tư tưởng "hợp tác với Pháp để duy tân xứ sở" do Tôn Thọ Tường đề xướng, nhưng đã bị người đời lên án, thì đến thời ông Vĩnh được coi là cần yếu, vì mọi cuộc khởi nghĩa đều lần lượt bị thất bại đau đớn.
Mặt khác, Nguyễn Văn Vĩnh có thể coi là ông tổ của văn học thế hệ 1913. Đông Dương tạp chí do ông điều khiển, quả là một văn đàn đã qui tụ nhiều nhà văn danh tiếng lúc bấy giờ. Và điều mà ông đã ôm ấp và phụng sự cho đến hết đời, đó là làm cho chữ Quốc ngữ có một tương tai rực rỡ. Tất cả cho thấy công của ông đối với văn học mới quả thực là to tát[6].
Không phải nói, ai cũng biết ông Vĩnh là nhà học nhiều biết rộng, vấn đề gì cũng biết. Điểm đó, ông phải là một điểm đặc biệt, vì chung quanh ông cũng có nhiều người như thế. Nhưng khác một điều là những người kia thì không ứng dụng được cái biết của mình làm lợi ích cho người khác. Đằng này, ông Vĩnh học và hành ngay. Phải nói ngay, thời ấy, ông đã có một ý thức về nghề báo...
...Ông Vĩnh là người lắm công nhiều việc. Ông làm việc như con trâu cày, không mấy khi muốn phiền người khác. Thú thật, cho đến bây giờ, tôi sợ nhiều người nhưng chưa sợ gì như sợ cái tài viết của ông...Ông viết tin, viết xã luận, làm thơ, khảo cứu, phóng sự và dịch tiểu thuyết thì quả không chê được...
Nói đến ông Vĩnh, người ta thường nhớ ngay đến loạt bài đả kích chủ trương quân chủ của Phạm Quỳnh theo sát với Tây, mà hầu như đều quên rằng chiến dịch làm cho từ Bắc đến Nam sôi nổi, hăng say, chiến dịch khích động lòng yêu nước của toàn dân lúc ấy, chiến dịch làm cho Pháp giựt mình, vì không ngờ ông Vĩnh lại được dân chúng tin yêu đến thế, chính là chiến dịch tẩy chay Hoa kiều bằng một bài báo ký tên là "Quan Thành".
...Những lời đe dọa, khi thì sỗ sàng, khi thì mềm dẻo của nhà cầm quyền Pháp hồi đó, kéo dài không ngớt trong cuộc đời ông. Vậy mà, thà là chịu khổ sở, thiếu thốn, hiểm nghèo, chớ không chịu vị tình người Pháp hay vì tiền của họ mà thay đổi lập trường, chí hướng...[7]
Nếu đánh giá về Nguyễn Văn Vĩnh mà chỉ dừng lại ở việc cụ là thủy tổ của làng báo tiếng Việt, là người có công phát triển chữ quốc ngữ và là nhà dịch thuật xuất sắc thì chưa đầy đủ và thỏa đáng. Điều xứng đáng hơn cũng là đóng góp lớn nhất ở cụ chính là về tư tưởng. Đó là một trong những nhà tư tưởng dân chủ đầu tiên của Việt Nam mang tính khai sáng. Cụ cũng là người biết dùng văn học và văn hóa để thấm sâu vào lòng người, truyền bá những tư tưởng tiến bộ, vượt thời đại. Với người chủ soái của nền văn hóa sử dụng chữ quốc ngữ này, tiếc rằng, đã có những giai đoạn lịch sử bị nhìn nhận sai lệch...[8]
Nguyễn Văn Vĩnh là một nhân vật quan trọng của buổi giao thời. Ông chủ trương theo mới, nhưng không tán thành con đường bí mật bạo động, mà chọn con đường "công khai dựa vào Pháp để canh tân đất nước".
Bởi vậy, ông vừa ra sức trình bày tư tưởng dân chủ tư sản Âu Tây, vừa phê phán hủ tục của người Việt bằng hình thức sách, báo.
Trong phạm vi có thể, ông đã cố gắng noi theo đường lối chủ Phan Chu Trinh, phê phán thẳng thừng chế độ phong kiến, kêu gọi mọi người Việt hãy thực hành kỹ nghệ và thương mại, mới có thể đưa đất nước đến chỗ phú cường.
Tuy cộng tác với Pháp, nhưng ông đã hai lần từ chối Bắc đẩu bội tinh của họ.
Về mặt văn học, tờ Đông Dương tạp chí do ông làm Chủ bút, và các tác phẩm dịch của ông một thời đã là lò đào luyện lớp thanh niên tân học.
Một đóng góp không nhỏ nữa của ông, đó chính là lòng nhiệt tình với chữ Quốc ngữ[9].

Thông tin thêm[sửa | sửa mã nguồn]

  • Tháng 4 năm 2010, một phần chân dung thật sự của Nguyễn Văn Vĩnh được giới thiệu qua bộ phim tài liệu: "Mạn đàm về Người Man di hiện đại" do đạo diễn điện ảnh Trần Văn Thủy cùng gia tộc của ông Vĩnh thực hiện.
  • quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh, hiện có con đường mang tên ông.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Xem thêm ở đây [1]. Ở bài viết bài này có một điều nhầm, đó là ông Vĩnh không phải là người đầu tiên dịch Tam Quốc Chí từ chữ Hán ra Quốc ngữ (người dịch đầu tiên là Lương Khắc Ninh), mà chỉ là người viết Lời tựa (cho bản dịch của Phan Kế Bính) trong đó có câu tuyên ngôn này vào năm 1907.
  2. ^ Thiệp liệp có nghĩa là biết đủ hết, nhưng không sâu sắc lắm.
  3. ^ Việt Nam văn học sử yếu, tr. 416.
  4. ^ Nhà văn hiện đại (Quyển 1), tr. 69.
  5. ^ Lược theo Phạm Thế Ngũ, sách đã dẫn, tr. 122-123.
  6. ^ Lược theo Thanh Lãng, sách đã dẫn, tr. 179 và 187.
  7. ^ Vũ Bằng, sách dã dẫn, chương Báo Trung văn và con người Nguyễn Văn Vĩnh.
  8. ^ Nguồn: [2] truy cập ngày 16/04/2009.
  9. ^ Lược theo Nguyễn Huệ Chi, Từ điển văn học (bộ mới), tr. 1224-1225.

Tài liệu tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Vũ Ngọc Phan, Nhà văn hiện đại (trọn bộ), Nhà xuất bản Sống Mới, Sài Gòn, 1959.
  • Dương Quảng Hàm, Việt Nam văn học sử yếu (bản in lần thú 10). Trung tâm học liệu xuất bản, Sài Gòn, 1968.
  • Nguyễn Huệ Chi, mục từ Nguyễn Văn Vĩnh in trong Từ điển văn học (bộ mới). Nhà xuất bản Thế giới, 2004.
  • Thanh Lãng, Bảng lược đồ văn học Việt Nam (Quyển Hạ). Nhà xuất bản Trình bày (Sài Gòn), không ghi năm xuất bản.
  • Vũ Bằng, 40 năm nói láo. Nhà xuất bản Văn hóa Thông tin, 1993.
  • Nguyễn Q. Thắng - Nguyễn Bá Thế. Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội, 1992.
  • Và các bài viết ở mục Liên kết ngoài.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]