Nguyệt Đình

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Nguyệt Đình
Công chúa Việt Nam
Quy Đức công chúa
Tại vị 1876 - 1892
Thông tin chung
Tên đầy đủ Nguyễn Phúc Vĩnh Trinh
Thân phụ Minh Mạng
Thân mẫu Thục tần Nguyễn Thị Bửu
Sinh 21 tháng 6, 1824
Huế, Đại Nam
Mất 18 tháng 4, 1892 (67 tuổi)
Huế, Đại Nam
Nghề nghiệp Thi sĩ

Nguyễn Phúc Vĩnh Trinh (1824-1892) tự Trọng Khanh, hiệu Nguyệt Đình, là hoàng nữ thứ mười tám của vua Minh Mạng, là người chị cả trong ba cô em gái của Tùng Thiện Vương Miên Thẩm (hai cô em kia là Mai AmHuệ Phố) và là một trong Tam Khanh của nhà Nguyễn, Việt Nam.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Nguyễn Phúc Vĩnh Trinh sinh ngày 25 tháng 5 năm Giáp Thân (21 tháng 6 năm 1824). Thuở bé Nguyệt Đình ở trong cung, năm 1849, bà cùng hai em đã kể trên theo mẹ là Thục tân Nguyễn Thị Bửu (1801-1851) ra ở Tiêu Viên trong phủ của anh trai là Miên Thẩm.

Vốn thông minh, ham đọc sách, lại được anh Miên Thẩm chỉ bảo nên Nguyệt Đình sớm làu thông kinh truyện.

Năm 1850, bà kết hôn với Phạm Đăng Thuật, con trai của đại thần Phạm Đăng Hưng, em của Phạm Thị Hằng (tức bà Từ Dụ, vợ vua Thiệu Trị, mẹ vua Tự Đức).

Hai vợ chồng sống hạnh phúc, xướng họa tương đắc. Sách Đại Nam liệt truyện chép:

Chúa (Nguyệt Đình) thác sinh ở nhà vua, lấy chồng người họ quý thích, mà khiêm tốn giữ gìn, không ưa xa xỉ, duy chỉ thích sách vở mà thôi.[1]

Sáng ngày 1 tháng 9 năm 1858, thực dân Pháp bắn vào cảng Đà Nẵng, mở màn cuộc xâm lấn lâu dài tại Việt Nam. Năm 1861, Phò mã Phạm Đăng Thuật vâng mệnh vào Nam Kỳ xem xét rồi chết việc nước. Vua Tự Đức thương tiếc, truy tặng hàm Quang Lộc tự khanh.

Hai vợ chồng chỉ sinh được một gái tên Uyển La, nhưng mất sớm.

Kể từ đó, Nguyệt Đình thủ tiết, nuôi cháu là Phạm Đăng Tiến (con của Phạm Đăng Thiệu) làm thừa tự, nhưng rồi thấy Tiến vô hạnh, bà từ bỏ, dựng từ đường riêng[2] ở trước mộ chồng.

Năm Tự Đức thứ 20 (1876), bà được phong Quy Đức công chúa.

Năm 1875, bà tâu xin được giao cho xã sở tại (Dương Xuân), chọn người coi giữ việc thờ cúng nơi từ đường.

Nguyệt Đình mất ngày 22 tháng 3 năm Nhâm Thìn (18 tháng 4 năm 1892) triều Thành Thái, hưởng thọ 68 tuổi, táng chung một chỗ với chồng, thụy Cung Thục.

Tác phẩm[sửa | sửa mã nguồn]

Nguyễn Phúc Vĩnh Trinh có để lại Nguyệt Đình thi thảo, được Tuy Lý Vương Miên Trinh đề tựa khen ngợi (dịch):

Xưa, phần nước Vệ ở Biến phong trong kinh Thi, bài Tái Trì là thơ của phu nhân Hứa Mục công, bài Hà Quảng là thơ của phu nhân Tống Hoàn công, thảy thảy phát ra từ tình cảm mà dừng lại ở lễ nghĩa, cho nên quốc sử khen ngợi và học giả tôn sùng.
Nay việc làm của em, nhất nhất đều ngay chính. Như thế dù không có thơ cũng đã đủ để lưu truyền rồi, huống chi còn có thơ nữa, thì những người thu thập về sau mà ta biết thế nào cũng có, ắt chẳng đáng chép đi in lại vài lần sao![3]

Tập thơ chưa được in ấn và hiện nay đã bị thất lạc.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Sử quán triều Nguyễn, Đại Nam liệt truyện tập 3, bản dịch của Viện Sử học, Nxn Thuận Hóa, Huế, 1993, tr. 181.
  2. ^ Quy Đức công chúa từ đường ở thôn Thượng Hai xã Thủy Xuân, thành phố Huế.
  3. ^ Trích Vĩ Dạ hợp tập. Chép lại trong Vua Minh Mạng với Thái y viện và ngự dược của Lê Nguyễn Lưu và Phan Tấn Tô, Nxb Thuận Hóa, 2007, tr. 100.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]