Nhà Đinh

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Đại Cồ Việt

Nhà Đinh

968–980
Vị trí của Đinh triều
Châu Á vào giữa thế kỷ thứ 9 đến hết thế kỷ thứ 10, ta có thể thấy rõ lãnh thổ Đại Cồ Việt (màu vàng nhạt)
Thủ đô Hoa Lư
Ngôn ngữ Tiếng Việt
Tôn giáo Phật giáo, Đạo giáo,...
Chính thể Quân chủ
Hoàng đế
 - 968-979 Đinh Tiên Hoàng
 - 979-980 Đinh Phế Đế
Lịch sử
 - Khởi đầu năm 968
 - Giải thể 980
Tiền tệ Tiền xu
Loạt bài
Lịch sử Việt Nam
Bản đồ Việt Nam

Thời tiền sử

Hồng Bàng

An Dương Vương

Bắc thuộc lần I (207 TCN - 40)
   Nhà Triệu (207 - 111 TCN)
Hai Bà Trưng (40 - 43)
Bắc thuộc lần II (43 - 541)
   Khởi nghĩa Bà Triệu
Nhà Tiền LýTriệu Việt Vương (541 - 602)
Bắc thuộc lần III (602 - 905)
   Mai Hắc Đế
   Phùng Hưng
Tự chủ (905 - 938)
   Họ Khúc
   Dương Đình Nghệ
   Kiều Công Tiễn
Nhà Ngô (938 - 967)
   Loạn 12 sứ quân
Nhà Đinh (968 - 980)
Nhà Tiền Lê (980 - 1009)
Nhà Lý (1009 - 1225)
Nhà Trần (1225 - 1400)
Nhà Hồ (1400 - 1407)
Bắc thuộc lần IV (1407 - 1427)
   Nhà Hậu Trần
   Khởi nghĩa Lam Sơn
Nhà Hậu Lê
   Nhà Lê sơ (1428 - 1527)
   
   trung
   hưng
(1533 - 1789)
Nhà Mạc (1527 - 1592)
Trịnh-Nguyễn
phân tranh
Nhà Tây Sơn (1778 - 1802)
Nhà Nguyễn (1802 - 1945)
   Pháp thuộc (1887 - 1945)
   Đế quốc Việt Nam (1945)
Chiến tranh Đông Dương (1945 - 1975)
   Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
   Quốc gia Việt Nam
   Việt Nam Cộng hòa
   Cộng hòa Miền Nam Việt Nam
Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (từ 1976)

Xem thêm

sửa

Nhà Đinh (chữ Hán: 丁朝, Đinh Triều) là triều đại phong kiến trong lịch sử Việt Nam bắt đầu năm 968, sau khi Đinh Tiên Hoàng dẹp xong loạn 12 sứ quân thống nhất đất nước và kết thúc năm 980 khi con của Đinh Tiên Hoàng là Đinh Phế Đế nhường ngôi cho Lê Hoàn.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Thống nhất giang sơn[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Loạn 12 sứ quân

Năm 944, Ngô Quyền mất, anh/em vợ là Dương Tam Kha cướp ngôi của nhà Ngô, xưng Dương Bình Vương. Các nơi không chịu thuần phục, nhiều thủ lĩnh nổi lên cát cứ các vùng thường đem quân đánh lẫn nhau.

Con trưởng của Ngô Quyền là Ngô Xương Ngập bỏ trốn. Dương Tam Kha nhận Ngô Xương Văn - con thứ của Ngô Quyền - làm con nuôi. Năm 950, Ngô Xương Văn lật đổ Dương Tam Kha, trở thành Nam Tấn Vương. Ngô Xương Ngập được đưa về, cũng làm vua, là Thiên Sách Vương. Đó là thời Hậu Ngô Vương.

Năm 954, Ngô Xương Ngập chết. Đến năm 965, Ngô Xương Văn chết, con Ngô Xương Ngập là Ngô Xương Xí nối nghiệp. Nhưng vì thế lực suy yếu nên lui về giữ đất Bình Kiều. Quý tộc nhà Ngô, các tướng nhà Ngô cùng các thủ lĩnh địa phương đều nổi dậy chiếm cứ một vùng. Bắt đầu từ đó hình thành thế mà sử sách gọi là loạn 12 sứ quân.

Trong số các lực lượng nổi dậy chống triều đình, nổi lên Đinh Bộ Lĩnh (Đinh Hoàn). Ông là người Hoa Lư, châu Đại Hoàng. Cha là Đinh Công Trứ, nha tướng của Dương Đình Nghệ, giữ chức thứ sử Châu Hoan.

Thời kỳ đó Đinh Bộ Lĩnh cũng tập hợp dân chúng ở Hoa Lư. Sau vì bất đồng với người chú, Đinh Bộ Lĩnh cùng con trai Đinh Liễn sang đầu quân trong đạo binh của sứ quân Trần Minh Công (Trần Lãm) ở Bố Hải Khẩu. Sau khi Trần Minh Công chết [1], Đinh Bộ Lĩnh thay quyền, đưa quân về Hoa Lư, chiêu mộ binh lính, chống nhà Ngô và các sứ quân khác.

Trong hơn 3 năm, Đinh Bộ Lĩnh đánh dẹp 12 sứ quân, thống nhất đất nước.

Đinh Tiên Hoàng[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Đinh Tiên Hoàng

Năm 968, Đinh Bộ Lĩnh lên ngôi Hoàng đế, tự xưng là Đại Thắng Minh Hoàng đế, tức là Đinh Tiên Hoàng, đặt quốc hiệu là Đại Cồ Việt, đóng đô ở Hoa Lư.

Đinh Bộ Lĩnh có ba con trai: Đinh Liễn, Đinh Toàn (Đinh Tuệ) và Đinh Hạng Lang. Đinh Liễn là con cả, đã cùng Đinh Bộ Lĩnh đánh dẹp 12 sứ quân. Năm 978, Đinh Bộ Lĩnh lập con út là Hạng Lang làm thái tử. Đinh Liễn quá tức giận nên giết chết Hạng Lang vào mùa xuân năm 979.

Cuối năm 979, Đinh Tiên HoàngĐinh Liễn bị sát hại trong cung. Sử ghi thủ phạm là nội nhân Đỗ Thích, nhưng các nhà nghiên cứu gần đây đặt ra giả thiết khác, chủ mưu là Lê Hoàn và Dương hậu.

Đinh Phế Đế[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Đinh Phế Đế

Năm 979 Đinh Toàn, con trai còn lại của Đinh Bộ Lĩnh lên ngôi, là Đinh Phế Đế.

Đinh Toàn khi đó mới 6 tuổi. Quyền lực thực tế nằm trong tay Thập đạo tướng quân Lê Hoàn, là nhiếp chính. Các đại thần Đinh Điền, Nguyễn Bặc, Phạm Hạp thấy vậy, lại nghi Lê Hoàn tư thông cùng Thái hậu Dương Vân Nga nên cử binh đến đánh. Lê Hoàn dẹp tan, Đinh Điền, Nguyễn Bặc, Phạm Hạp đều bị giết chết. Phò mã Ngô Nhật Khánh bỏ trốn vào nam sang Chăm Pa, sau đó cùng vua Chăm Pa với hơn nghìn chiến thuyền định đến đánh kinh đô Hoa Lư nhưng bị bão dìm chết.

Năm 980, nhà Tống rục rịch điều quân sang đánh Đại Cồ Việt, Thái hậu Dương Vân Nga cùng triều thần tôn Lê Hoàn lên làm vua, tức vua Lê Đại Hành. Nhà Đinh kết thúc, truyền được đến đời thứ hai, trị vì 12 năm (968-980).

Lê Hoàn sau khi lên ngôi lập ra nhà Tiền Lê đã đánh thắng quân Tống (tháng 4 năm 981). Đinh Toàn trở thành Vệ Vương có mặt trong triều đình Tiền Lê 20 năm. Năm 1001, trong lần cùng vua Lê Đại Hành đi dẹp loạn Cử Long thuộc vùng Cầm Thuỷ Thanh Hoá, Đinh Toàn bị trúng tên chết.

Nội trị[sửa | sửa mã nguồn]

Bộ máy chính quyền[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 971, Đinh Tiên Hoàng bắt đầu quy định cấp bậc văn võ trong triều đình. Trong triều có sự tham gia của các nhà sư vì những đóng góp của họ trong quá trình dẹp loạn 12 sứ quân[2]. Vua Đinh phong cho các quan văn võ:

  • Nguyễn Bặc làm Định quốc công
  • Đinh Điền làm ngoại giáp
  • Lưu Cơ làm Đô hộ phủ sĩ sư (chức vụ coi việc hình án)
  • Lê Hoàn làm Thập đạo tướng quân,
  • Tăng thống Ngô Chân Lưu được ban hiệu là Khuông Việt đại sư
  • Trương Ma Ni làm Tăng lục
  • Đạo sĩ Đặng Huyền Quang được trao chức Sùng chân uy nghi.

Năm 975 vua Đinh ban quy định áo mũ cho các quan văn võ[3]. Bộ máy chính quyền nhà Đinh vẫn được xem là đơn sơ[4].

Quân đội[sửa | sửa mã nguồn]

Theo sử sách, quân đội nhà Đinh có mười đạo: mỗi đạo có 10 quân, 1 quân 10 lữ, 1 lữ 10 tốt, 1 tốt 10 ngũ, 1 ngũ 10 người. Như vậy tổng số theo lý thuyết là 1 triệu người.

Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu nhiều ý kiến cho rằng con số đó không có thực. Chữ Thập, theo Lê Văn Siêu, chỉ mang tính khái quát toàn thể về cách tổ chức kiểu "ngụ binh ư nông" như nhà Lý sau này, thời bình cho làm ruộng, chỉ huy động khi cần[5]; còn Trần Trọng Kim ước đoán quân đội nhà Đinh nhiều nhất chỉ có đến 10 vạn người[6].

Pháp luật[sửa | sửa mã nguồn]

Do ảnh hưởng nhiều năm từ thời loạn lạc, có nhiều người quen thói lúc loạn, không chịu tuân theo luật lệ. Do đó vua Tiên Hoàng dùng pháp luật nghiêm ngặt để trừng trị.

Đại Việt sử ký toàn thư ghi về việc này:

Vua [Đinh Tiên Hoàng] muốn dùng uy chế ngự thiên hạ, bèn đặt vạc lớn ở sân triều, nuôi hổ dữ trong cũi, hạ lệnh rằng: "Kẻ nào trái phép phải chịu tội bỏ vạc dầu, cho hổ ăn". Mọi người đều sợ phục, không ai dám phạm[3].

Trần Trọng Kim cho rằng "hình uy nghiêm như thế, thì cũng quá lắm, nhưng nhờ có những hình luật ấy thì dân trong nước mới dần dần được yên"[6].

Đối ngoại[sửa | sửa mã nguồn]

Nhà Tống đang trên đường thống nhất Trung Quốc sau hơn 50 năm loạn lạc. Quân Tống do Phan Mỹ chỉ huy đã áp sát nước Nam Hán ở cạnh nước Đại Cồ Việt. Năm 970 Đinh Tiên Hoàng sai sứ sang giao hảo với Tống Thái Tổ. Việc ngoại giao với phương bắc từ đó được duy trì khá đều đặn và hòa bình.

Sang năm 972, Tiên Hoàng lại sai con cả Đinh Liễn đi sứ sang Biện Kinh. Năm 973, Đinh Liễn trở về, nhà Tống lại sai sứ sang phong cho Tiên Hoàng làm Giao Chỉ quận vương, Đinh Liễn làm Kiểm hiệu thái sư Tỉnh Hải quân tiết độ sứ An Nam đô hộ[3].

Đầu năm 975, Tiên Hoàng lại sai Trịnh Tú đem vàng, lụa, sừng tê, ngà voi sang triều cống nhà Tống. Ngay mùa thu năm đó, nhà Tống sai Hồng lô tự khanh Cao Bảo Tự cùng Vương Ngạn Phù sang gia phong cho Nam Việt Vương Liễn làm Khai phủ nghi đồng tam ty, Kiểm hiệu thái sư, Giao Chỉ quận vương. Từ đó về sau, Đinh Liễn được giao làm chủ việc ngoại giao với nhà Tống[3].

Đến năm 976, vua Đinh sai em Trần Lãmphò mã Trần Nguyên Thái sang nhà Tống đáp lễ. Năm sau (977), ông lại sai sứ sang mừng vua Tống mới là Tống Thái Tông lên ngôi. Đó cũng là lần ngoại giao cuối cùng giữa nhà Đinh và nhà Tống mà sử sách đề cập.

Nhận định[sửa | sửa mã nguồn]

Thời kỳ phục quốc của Việt Nam thế kỷ 10, từ họ Khúc chỉ xưng làm Tiết độ sứ, tới Ngô Quyền xưng vương và tới vua Đinh xưng làm hoàng đế. Sau hai vua nhà Tiền Lý xưng đế vào thế kỷ 6, 400 năm sau người cầm quyền Việt Nam mới thực sự vươn tới đỉnh cao ngôi vị và danh hiệu, khẳng định vị thế vững chắc của quốc gia độc lập. Trong hoạt động ngoại giao, nhà Đinh được nhà Tống thừa nhận và coi trọng.

Việc vua Đinh khéo kết hợp dùng võ công và biện pháp chiêu hàng các sứ quân để sớm chấm dứt loạn 12 sứ quân (968) là rất kịp thời, vì không lâu sau đó nhà Tống duỗi tới Quảng Châu, diệt nước Nam Hán (971), áp sát biên giới Đại Cồ Việt. Nếu không có sự xuất hiện của Đinh Bộ Lĩnh để thống nhất quốc gia bị chia sẻ tan nát, Việt Nam khó thoát khỏi họa xâm lăng từ phương bắc tái diễn khi nhà Tống hoàn thành việc thống nhất phương Nam.

Kế tục nhà Ngô, nhà Đinh tiếp tục xây dựng bộ máy cai trị trên lãnh thổ, dù chưa được đàng hoàn bị như nhà Lý sau này nhưng bước đầu đã đi vào nề nếp.

Tổng cộng nhà Đinh có hai đời nhưng thực chất chỉ có 1 đời vua Tiên Hoàng.

Di tích thời nhà Đinh[sửa | sửa mã nguồn]

Ninh Bình là vùng đất có kinh đô Hoa Lư, ở đây có nhiều di tích liên quan đến triều đại nhà Đinh, đặc biệt nằm ở các huyện Hoa Lư, Nho QuanGia Viễn như: Cố đô Hoa Lư với Đền Vua Đinh Tiên Hoàng, Đền thờ Công chúa Phất Kim, sông Sào Khê, Động Thiên Tôn, Tràng An... Các di tích quê hương nhà Đinh với đền thờ Đinh Bộ Lĩnh, động Hoa Lư, các đền thờ Đinh ĐiềnNguyễn Bặc... Đặc biệt quần thể danh thắng Tràng An với rất nhiều di tích thời Đinh đã được UNESCO công nhận là di sản thế giới năm 2014.

Nhân dân vùng Kỳ Bố Hải Khẩu nói riêng và tỉnh Thái Bình nói chung đã có công lao rất lớn để tạo tiền đề cho sự nghiệp thống nhất đất nước của Đinh Tiên Hoàng. Các di tích lịch sử phản ánh về thời kỳ này có: Từ đường thờ Bùi Quang Dũng (xã Tân Bình, huyện Vũ Thư) một vị tướng có công khai quốc thời kỳ Đinh Bộ Lĩnh dẹp loạn 12 sứ quân, hiện còn từ đường thờ ông (Xã Tân Bình, Vũ Thư); Đình Trần Lãm (phường Trần Lãm, thành phố Thái Bình) lưu niệm sự kiện của sứ quân Trần Lãm; Miếu Ba Thôn, chùa Hưng Quốc (Thuỵ Hải, Thái Thụy) và miếu Bắc (Đông Sơn, Đông Hưng) thờ các tướng lĩnh giúp Đinh Bộ Lĩnh trong sự nghiệp dẹp loạn 12 sứ quân; Đình Khả (Duyên Hải, Hưng Hà) lưu niệm tướng quân của nhà Đinh là Nguyễn Phúc Thời.[7]

Hải Dương[8] có rất nhiều di tích thời Đinh, thờ các tướng lĩnh và quan trung thần của Đinh Tiên Hoàng như: ở huyện Bình Giang có Đình Bình An, xã Tân Việt thờ Hùng Lĩnh Tráng Trần; Đình Chanh Trong, xã Thúc Kháng thờ Khanh Công; Đình Băng Trai, xã Vĩnh Hồng thờ Trình An Tể; Đình Nhân Kiệt, xã Hùng Thắng thờ trung thần Đinh Điền. Ở Thanh Miện có Đình Đỗ Hạ, xã Phạm Kha thờ Lý Trí Thắng; Đền Từ Ô, xã Tân Trào; Đình Đỗ Thượng, xã Phạm Kha thờ Lý Trí Thắng; Đình Bằng Bộ, xã Cao Thắng thờ thành hoàng làng Cao Minh, hiệu là Viên Thông chiêu cảm. Ở Thanh Hà có Chùa Liên Minh và đình Thiệu Mỹ, xã Vĩnh Lập thờ Đặng Danh Trí, Trịnh Thị Khang, Đặng Công Trân; Miếu Thánh Cả, xã Thanh Bình thờ Đặng Châm, Trịnh Thị Khang, Đặng Trí; đền Từ Hạ hay đền Thánh Cả, thuộc thôn Phúc Giới, xã Thanh Bính thờ cha con tướng quân Đặng Chân, Đặng Trí; Đình thôn Kỳ Tây thờ Hoàng Uy Công, Hoàng Trung Công, Hoàng Chí Công là ba anh em ruột có công giúp Đinh Bộ Lĩnh dẹp loạn 12 sứ quân. Ngoài ra có Đình Kim Đôi, xã Cẩm Hoàng (Cẩm Giàng) thờ vua Đinh Tiên Hoàng; Huyện Gia Lộc có đình Đông Quan, xã Tân Hưng. Miếu An Cư Lộc làng Hậu Bổng, xã Quang Minh thờ Lê Viết Bao; Miếu Phú Nội, xã Bình Dân (Kim Thành) thờ tướng giúp vua Đinh; Đình Ngọc Uyên, phường Ngọc Châu (tp Hải Dương) thờ Lê Viết Hưng, Lê Viết Quang; Đình Thụy Trà, chùa Thụy Trà, miếu Thụy Trà xã Thượng Đạt (Nam Sách) thờ danh tướng Phạm Công Hòa; Đình Dậu Trì, xã Hồng Thái (Ninh Giang) thờ Trần Minh Công.

Nam Định có những di tích tiêu biểu sau: Đình Xám: thôn Lạc Đạo, xã Hồng Quang, huyện Nam Trực, thờ Trần Minh Công tức Trần Lãm. Đình Thượng Đồng: xã Yên Tiến, huyện Ý Yên. Đình thờ Đinh Tiên Hoàng làm thành hoàng. Đền Vua Đinh (Yên Thắng), Ý Yên thờ vua Đinh Tiên Hoàng, Đền Gin: thông Chiền, xã Nam Dương, huyện Nam Trực, một trong 12 sứ quân; Đền An Lá: xã Nghĩa An, huyện Nam Trực thờ Nguyễn Tấn, một vị tướng của nhà Đinh (thế kỷ thứ X); Đền Hưng Lộc: xã Nghĩa Thịnh, huyện Nghĩa Hưng, thờ Phạm Cự Lượng tướng thời Đinh. Đình Cát Đằng xã Yên Tiến huyện Ý Yên thờ 2 anh em Đinh Đức Đạt và Đinh Đức Thông.

Hưng Yên có đền Mây thờ sứ quân Phạm Bạch Hổ. Đình Phù Liệt, xã Thắng Lợi, huyện Văn Giang thờ ngũ vị đại vương âm phù Đinh Bộ Lĩnh thắng trận. Đền Kim Đằng ở thôn Kim Đằng, phường Lam Sơn, thành phố Hưng Yên thờ Đinh Điền. Đình Thắm thị trấn Văn Giang thờ tướng Chu Công Mẫn.

Hà Nam có đình Mai Động, xã Trung Lương, Bình Lục thờ 2 anh em Phạm Phổ, Phạm Hán.

Ở xã Hưng Long, Hưng Nguyên, Nghệ An có đền Xuân Hòa thờ thần Cao Các. Theo Ngọc phả, Đại vương là vị tướng mưu lược, có công giúp Đinh Bộ Lĩnh dẹp loạn 12 sứ quân, đánh đuổi quân Chiêm Thành. Sau khi ông mất, nhà Đinh thương tiếc cho lập đền thờ. Các triều vua về sau đã phong sắc cho ông là "Thượng thượng đẳng tối linh Tôn Thần."

Vĩnh Phúc có đình Bồ Lý, xã Bồ Lý, huyện Tam Đảo thờ 2 vị thành hoàng làng: Giang Khẩu Hộ Sát Linh Thính và Giản Sơn Linh Ứng giúp vua Đinh dẹp loạn.

Hà Nội có Đình Mậu Hòa, xã Minh Khai, Hoài Đức là nơi thờ Tướng quân Phạm Đông Nga đã có công giúp vua Đinh Tiên Hoàng dẹp loạn 12 sứ quân. Hội thả diều làng Bá Giang ở xã Hồng Hà, huyện Đan Phượng, Hà Nội tôn vinh Nguyễn Cả giúp Vua Đinh dẹp loạn. Đình Ba Dân ở Tứ Hiệp, Thanh Trì thờ 2 tướng Nguyễn Bồ, Nguyễn Phục. Làng Động Phí thuộc xã Phương Tú, huyện Ứng Hoà có đền thờ 2 anh em Bạch Tượng, Bạch Địa. Đình So, xã Cộng Hòa, Quốc Oai thời Vương mẫu có 3 con theo vua dẹp loạn. Đình Đông Dư Thượng và Hạ thuộc xã Đông Dư, Gia Lâm đều thờ Bạch Đa đại vương - người có công giúp Đinh Bộ Lĩnh dẹp loạn 12 sứ quân. Đình Mạnh Tân xã Thụy Lâm, Huyện Đông Anh thờ́ tướng Đương Giang. Đình Phú Thị, Gia Lâm thờ Đào Liên Hoa có công dẹp loạn ở châu Vũ Ninh. Đình Kim Sơn xã Kim Sơn, Gia Lâm thờ Cao Điền Công và Cao Đỗ Công. Đình Phù Sa ở phường Viên Sơn, Sơn Tây thờ công chúa Phù Dung (con vua Đinh Tiên Hoàng) và phò mã Quán Sơn có công đánh dẹp, sau đó về Phù Sa chiêu binh lập ấp, dạy dân làng trồng dâu, nuôi tằm và được làm Thành hoàng.

Hải Phòng có Đình Văn Cú ở xã An Đồng, huyện An Dương thờ hai vị thành hoàng là Đỗ Quang và Đỗ Huy có công dẹp loạn. Đình Trại Kênh, xã Kênh Giang, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng cũng thờ các vị tướng theo giúp vua Đinh dẹp 12 sứ quân.

Bắc Ninh có đình Đông Cốc, xã Hà Mãn, huyện Thuận Thành thờ Linh Thông đại vương. Đình Đại Vi ở làng Đại Vi xã Đại Đồng, huyện Tiên Du thờ ba vị thần là Chàng Ngọ, Chàng Mai và Bạch Đa. Ba ông quê ở động Hoa Lư, có công giúp Đinh Bộ Lĩnh dẹp loạn các sứ quân. Miếu Cửu Tướng Quân ở Thuận Thành thờ 9 vị trung thần thời Đinh.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Đại Việt Sử ký Toàn thư
  • Nguyễn Danh Phiệt (1990), Nhà Đinh dẹp loạn và dựng nước, NXB Khoa học xã hội
  • Lê Văn Siêu (2004), Việt Nam văn minh sử cương, NXB Thanh niên

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Có tài liệu ghi là Trần Lãm già yếu trao lại quyền cho Bộ Lĩnh
  2. ^ Lê Văn Siêu, sách đã dẫn, tr 52
  3. ^ a ă â b Đại Việt sử ký toàn thư, quyển V
  4. ^ Lê Văn Siêu, sách đã dẫn, tr 57
  5. ^ Lê Văn Siêu, sách đã dẫn, tr 55
  6. ^ a ă Việt Nam sử lược, bản điện tử, tr 36
  7. ^ Di tích nhà Đinh, Cổng thông tin điện tử Tỉnh Thái Bình, Theo Địa chí Thái Bình
  8. ^ Hải Dương thời Đinh - Tiền Lê

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]