Nhà Bè

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Huyện Nhà Bè
Huyện
VN-F-HC-HNB position in metropolitan area.png
Địa lý
Tọa độ: 10°39′6″B 106°43′35″Đ / 10,65167°B 106,72639°Đ / 10.65167; 106.72639Tọa độ: 10°39′6″B 106°43′35″Đ / 10,65167°B 106,72639°Đ / 10.65167; 106.72639
Diện tích 100 km2[1]
Dân số (2010)  
 Tổng cộng 103.793 người[1]
 Mật độ 1.034 người/km2[1]
Hành chính
Quốc gia  Việt Nam
Vùng Đông Nam Bộ
Thành phố Hồ Chí Minh
Phân chia hành chính Thị trấn Nhà Bè và 6 xã
Mã hành chính 786[2]
Website Huyện Nhà Bè

Nhà Bè là huyện ngoại thành nằm về phía đông nam của Thành phố Hồ Chí Minh. Huyện có một hệ thống sông ngòi thuận lợi cho việc mở rộng mạng lưới giao thông đường thủy đi khắp nơi, có điều kiện xây dựng các cảng nước sâu đủ sức tiếp nhận các tàu có trọng tải lớn cập cảng.

Vị trí địa lý[sửa | sửa mã nguồn]

Nhà Bè nằm về phía Đông Nam của Thành phố Hồ Chí Minh.

Hành chính[sửa | sửa mã nguồn]

Các đơn vị hành chính thuộc huyện Nhà Bè là:

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Mùa xuân 1698, Thống soái Nguyễn Hữu Cảnh được Võ Vương Nguyễn Phúc Chu cử vào Nam kinh lược kể từ thời điểm này, các thôn ấp ở Nhà Bè chính thức trở thành đơn vị hành chính thuộc huyện Tân Bình, dinh Phiên Trấn[3].

Lấy đất Đồng Nai đặt làm phủ Gia Định…, lập xứ Sài Gòn làm huyện Tân Bình, dựng dinh Phiên Trấn
Một đoạn sông tại Huyện Nhà Bè

Vào khoảng nửa đầu thế kỷ XVIII, Tên gọi Nhà Bè xuất hiện, khi công cuộc khẩn hoang được các chúa Nguyễn đẩy mạnh với quy mô lớn. Nhiều cư dân đàng ngoài xuôi thuyền vào tới sông Soài Rạp gặp dòng nước ngược nên đã kết bè trên sông, làm nơi nấu nướng, sinh hoạt cho cả đoàn thuyền. Lòng thuyền chật hẹp nấu nướng khó khăn nên có một người tên Võ Thũ Hoằng[4] đã nảy ra sáng kiến cho đốn tre kết làm bè neo trên sông, làm nơi nấu nướng, sinh hoạt cho cả đoàn thuyền. Về sau, nhiều người cũng kết thành hai ba chục chiếc bè làm chỗ buôn bán, trao đổi hàng hoá. Khoảng sông này ngày càng tấp nập đông vui và địa danh Nhà Bè được ra đời.

Lúc ấy dân cư thưa thớt lại xa xôi, đò xa thuyền nhỏ, hành khách thường khổ sở về chuyện ăn uống. Có người nhà giàu ở tổng Tân Chánh là Võ Thủ Hoằng bó tre làm bè, dựng nhà, sắm đủ đồ dùng nấu nướng để hành khách tự ý lấy dùng, không phải trả tiền. Sau đó người buôn bán cũng đóng bè, bán thức ăn, nhiều đến hai ba chục bè. Họp thành chợ sông, vì thế chỗ này gọi là Nhà Bè....

—Sách Đại Nam nhất thống chí

Năm 1808, vua Gia Long đổi dinh Phiên Trấn thành Trấn Phiên An, quản trị phủ Tân Bình gồm 4 huyện. Các thôn xã thuộc khu vực Nhà Bè lúc này trực thuộc Tổng Tân PhongTổng Bình Trị thuộc 2 huyện Tân LongBình Dương.

Năm 1836, đổi tên trấn Phiên An thành tỉnh Phiên An, và cải thành tỉnh Gia Định. Thời điểm này các thôn xã thuộc khu vực Nhà Bè năm trong Tổng Bình Trị Thượng, huyện Bình Dương phủ Tân Bình và Tổng Tân Phong Hạ thuộc huyện Tân Long, Phủ Tân Bình, tỉnh Gia Định[3].

Ngày 5 tháng 6 năm 1882, Sau hiệp ước Nhâm Tuất, Pháp tổ chức cai trị 3 tỉnh miền Đông Nam kỳ. Khi ấy cơ cấu hành chính vẫn giữ nguyên. Mãi năm 1866, Pháp sát nhập hai huyện Bình DươngBình Long thành hạt Sài Gòn, và đổi tên thành hạt Gia Định gồm 19 tổng. Trong đó Tổng Bình Trị Hạ gồm 9 xã nông thôn và Tổng Dương Hòa Hạ gồm 12 xã thôn thuộc địa phận huyện Nhà Bè[3].

Cuối thời pháp, Nhà Bè là quận thuộc tỉnh Gia Định bao gồm 4 tổng, trong đó hai tổng Bình Trị Hạ và Dương Hòa Hạ tương đương với Nhà Bè. Năm 1961, một phần phía Bắc huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An được sát nhập vào huyện Nhà Bè, thuộc tỉnh Gia Định.

Thời Việt Nam Cộng hòa, Nhà Bè là quận của tỉnh Gia Định. Dân số năm 1965 gần 44 nghìn người. Nhà Bè được dùng làm tên quận trong giai đoạn 1917 đến 1975.

Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, Nhà Bè là huyện của Thành phố Hồ Chí Minh. Đến Tháng ngày 01 tháng 4 năm 1997, Nhà Bè được tách một phần phía Bắc để thành lập một quận mới là Quận 7[3].

Trước khi chia tách, huyện Nhà Bè có 1 thị trấn Nhà Bè và 11 xã: Tân Quy Đông, Tân Quy Tây, Tân Thuận Đông, Tân Thuận Tây, Phú Mỹ, Phú Xuân, Long Thới, Nhơn Đức, Phước Kiểng, Hiệp Phước, Phước Lộc.

Ca dao[sửa | sửa mã nguồn]

Sông Đồng Nai chảy qua thành phố Biên Hòa, đến Nhà Bè thì có thêm chi lưu là sông Sài Gòn. Vì vậy ca dao có câu:

Nhà Bè nước chảy chia hai,

Ai về Gia Định, Đồng Nai thì về...
a li hò lờ a li hò lơ...

—Ca dao Việt Nam

Một vùng quê tại Huyện Nhà Bè

Điều kiện tự nhiên[sửa | sửa mã nguồn]

Nằm án ngữ trên đoạn đường thủy huyết mạch từ biển Đông vào Sài Gòn, tiếp giáp với rừng Sác. Ở phía Tây Nhà Bè, con kênh Cây Khô trên tuyến đường thuỷ từ đồng bằng sông Cửu Long về Thành phố Hồ Chí Minh.

Hệ thống Sông ngòi chằn chịt thuận lợi cho việc mở rộng mạng lưới giao thông đường thủy đi khắp nơi, có điều kiện xây dựng các cảng nước sâu đủ sức tiếp nhận các tàu có trọng tải lớn cập cảng. Với điều kiện tự nhiên thuận lợi và nguồn nhân lực dồi dào, Nhà Bè đóng một vai trò quan trọng về mặt kinh tế. Bên cạnh đó, Nhà Bè còn được xem là một vị trí có ý nghĩa đặc biệt về mặt chiến lược.

Do ở gần cửa sông, tiếp giáp với biển, nên nguồn nước ngọt dành cho sinh hoạt và sản xuất của huyện rất khó khăn, vào mùa khô thường xuyên thiếu nước. Ngoài ra, Những năm gần đây hiện tượng sạt lở đất đai xảy ra thường xuyên ảnh hưởng đến tính mạng và tài sản của người dân.

Huyện được xác định là phát triển theo hướng công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thương mại dịch vụnông nghiệp. Tuy nhiên, trong những năm đầu thế kỷ 21, nông nghiệp vẫn đóng vai trò quan trọng trong cơ cấu kinh tế của Nhà Bè.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â Dân số và mật độ dân số năm 2010 phân chia theo quận, huyện, Theo Cục Thống kê thành phố Hồ Chí Minh.
  2. ^ “Mã số đơn vị hành chính Việt Nam”. Bộ Thông tin & Truyền thông. Truy cập ngày 10 tháng 4 năm 2012. 
  3. ^ a ă â b Giới thiệu về Huyện Nhà Bè, Theo cổng thông tin điện tử Sài Gòn.
  4. ^ Theo Văn hóa dân gian huyện Nhà Bè