Nhũ Tử Anh
|
||||||||||||||||||||||||||||
Nhũ Tử Anh (chữ Hán: 孺子嬰; 5 – 25) hay Lưu Anh (劉嬰) là vị Hoàng đế cuối cùng của nhà Tây Hán trong lịch sử Trung Quốc.
Mục lục |
[sửa] Thân thế
Lưu Anh là con của Quang Uy hầu Lưu Hiển – hoàng thân nhà Hán, cháu nội của Hán Nguyên Đế. Lưu Anh là cháu 4 đời của Hán Tuyên Đế.
[sửa] Thế phả nhà Hán
|
|
|
|
1 Hán Cao Tổ ?-195TCN 256-195TCN |
||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
||||||||||||||||||||||||||||||||||
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|||||||||||||||||||||||||||||||||||
|
|
5 Hán Văn Đế 180-157TCN 202–157TCN |
|
Lưu Cứ |
|
Lưu Bác |
|
2 Hán Huệ Đế 194-188TCN 210–188TCN |
|
|||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|||||||||||||||||||||||||||||||||
|
|
|
|
|
|
|
||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
|
|
6 Hán Cảnh Đế 157-141TCN 188–141TCN |
|
Lưu Tiến |
|
9 Xương Ấp Vương 74-74TCN ?-59TCN |
|
3 Hán Tiền Thiếu Đế 188-184TCN ?–184TCN |
|
4 Hán Hậu Thiếu Đế 184-180TCN ?–180TCN |
||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
|
|
|
|
|
|
|
|
|||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
|
|
7 Hán Vũ Đế 140-87TCN 156-87TCN |
|
10 Hán Tuyên Đế 74-49TCN 91-49TCN |
||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
|
|
|
|
|
|
|
|
|||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
|
|
8 Hán Chiêu Đế 95–74TCN 87-74TCN |
|
11 Hán Nguyên Đế 76–33TCN 49-33TCN |
||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
||||||||||||||||||||||||||||||||||
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|||||||||||||||||||||||||||||||||||
|
|
Lưu Khang |
|
Lưu Hưng |
|
Lưu Hiển |
|
12 Hán Thành Đế 33–7TCN 51-7TCN |
||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
|
|
13 Hán Ai Đế 7–1TCN 26-1TCN |
|
14 Hán Bình Đế 9TCN–5SCN 1TCN-5SCN |
|
15 Nhũ Tử Anh 5–8 25–25 5–25 |
||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
[sửa] Thiếu đế bị truất
Lưu Anh sinh ra khi nhà Tây Hán đã bị ngoại thích Vương Mãng thao túng trong nhiều năm. Vương Mãng lập các hoàng đế ít tuổi lên ngôi để khống chế.
Để chuẩn bị cướp ngôi nhà Hán, cuối năm 5 SCN, Vương Mãng đầu độc giết Hán Bình Đế mới lên 14 tuổi. Vì Bình Đế chưa có con, Vương Mãng chọn Lưu Anh vừa ra đời chưa lâu lên ngôi vua. Do Lưu Anh còn quá nhỏ tuổi nên được gọi là Nhũ Tử Anh (đứa trẻ tên Anh).
Trong thời gian Lưu Anh ở ngôi trên danh nghĩa, một số hoàng thân nhà Hán nhận ra ý định của Vương Mãng đã khởi binh chống lại, nhưng đều bị dẹp.
Năm 8, Nhũ Tử Anh bị Vương Mãng phế truất và cướp ngôi hoàng đế, lập ra nhà Tân (8-23). Lúc đó Nhũ Tử Anh mới 4 tuổi, bị giáng phong làm Định An công.
[sửa] Chống Lưu Huyền thất bại
Chính quyền nhà Tân mất lòng dân, nhân dân nổi dậy chống lại. Năm 23, quân khởi nghĩa Lục Lâm đánh vào Tràng An giết chết Vương Mãng. Thủ lĩnh quân Lục Lâm là hoàng thân Lưu Huyền được lập lên ngôi, tức là vua Canh Thủy Đế.
Canh Thuỷ đế thắng được Vương Mãng nhưng sớm có tư tưởng hưởng lạc, trong khi các lực lượng chống đối từ cuối thời Vương Mãng còn nhiều. Chính quyền Canh Thuỷ suy yếu nhanh chóng.
Đầu năm 25, Lưu Anh lên 21 tuổi. Tướng Phương Vọng ở Bình Lăng[1] thấy chính quyền Canh Thuỷ đã loạn, bèn lập ông lên ngôi để chống Lưu Huyền.
Lưu Huyền biết tin bèn sai Lý Tùng mang quân trấn áp. Phương Vọng thế yếu không chống lại được Lý Tùng. Cuối cùng cả Phương Vọng và Lưu Anh đều bị giết chết.
Lưu Anh làm vua 2 lần nhưng đều nhanh chóng bị mất ngôi.
[sửa] Xem thêm
[sửa] Tham khảo
- Tào Hồng Toại (2004), Thời niên thiếu của các bậc đế vương, NXB Văn hóa thông tin
- Đặng Huy Phúc (2001), Các hoàng đế Trung Hoa, NXB Hà Nội
[sửa] Chú thích
- ^ Hàm Dương, Thiểm Tây
|
||||||||||||||