Nhạc phản chiến của Trịnh Công Sơn
Nhạc phản chiến của Trịnh Công Sơn bao gồm các tác phẩm của ông viết về cuộc Chiến tranh Việt Nam dưới các góc nhìn khác nhau. Trong tác phẩm Gia tài của mẹ (1965), ông gọi cuộc chiến tranh ở Việt Nam là một cuộc "nội chiến",[1] vì đối với ông "cái chết nào cũng là cái chết đau lòng với dân tộc".[2] Nhạc chiến tranh của ông bắt nguồn từ tình yêu thương, là những bài tự tình dân tộc, nói về thân phận khổ ải của con người trong chiến tranh.[1] Các ca từ trong các ca khúc phản chiến ca tụng tình yêu thương, chống bạo lực và chiến tranh, kêu gọi sự đoàn kết và xóa bỏ lòng hận thù. Các tác phẩm của ông chủ yếu được lưu truyền trong giới sinh viên, và phần lớn bị cả Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Việt Nam Cộng hòa cấm đoán.[3] Sau chiến tranh một số tác phẩm được phép lưu hành ở Việt Nam, nhưng một số tác phẩm bị cấm lưu hành. Sau khi mất, năm 2004 ông được trao Giải thưởng âm nhạc hoà bình thế giới (WPMA).[4]
Trịnh Công Sơn bắt đầu sáng tác dạng nhạc này vào khoảng năm 1965- 1966. Năm 1966, ông cho ra đời tập Ca khúc Trịnh Công Sơn, trong đó có manh nha một xu hướng chính trị yếm thế. Đến năm 1967, nhạc Trịnh lên đến đỉnh cao của sự phản chiến bằng tập Ca khúc da vàng. Năm sau, ông cho ra tiếp tập Kinh Việt Nam. Từ năm 1970 tới 1972 ông tự ấn hành được hai tập nhạc phản chiến là Ta phải thấy mặt trời và Phụ khúc da vàng[5].
Mục lục |
Phản ứng của chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Việt Nam Cộng hòa [sửa]
Các tác phẩm phản chiến của ông phản đối cuộc chiến tranh Việt Nam, do đó cả 2 phía đều cấm đoán phần lớn các tác phẩm phản chiến của ông, mặc dù vậy nhiều người Việt Nam vẫn rất yêu thích các tác phẩm này. Vì thái độ không thật sự bên nào của ông gây nên sự nghi ngờ của cả 2 phía.[6].
Bên Việt Nam Cộng hòa còn có người coi ông là người "hèn nhát": Trịnh Công Sơn chỉ là một cây sậy, hơn thế nữa, là một cây sậy yếu hèn (cho dù có là "cây sậy có biết suy nghĩ tới đâu). Trong lớp vỏ của một cây sậy, của một thể chất yếu đuối, là một bản chất yếu đuối...[7].
Bên Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thì có những người "gạt ông sang bên lề vì coi ông thiếu lập trường chính trị"[6], có những người cực đoan dọa sau khi tiến về Sài Gòn sẽ "xử tử" ông.[1]
Một số ca khúc [sửa]
| Tên ca khúc (tên khác) |
Năm sáng tác |
Ghi chú |
|---|---|---|
| Gia tài của mẹ | 1965 | |
| Bài ca dành cho những xác người | 1968 | |
| Tình ca người mất trí | 1967 | |
| Huế - Sài Gòn – Hà Nội | 1969 | |
| Tuổi trẻ Việt Nam | 1969 | |
| Xin mặt trời ngủ yên | 1964 | |
| Cho một người nằm xuống | 1968 | |
| Tôi đã mất | 1970 | |
| Nhưng hôm nay | 1967 | |
| Đại bác ru đêm | 1967 | |
| Dựng lại người dựng lại nhà | 1968 | |
| Cỏ xót xa đưa | 1969 | |
| Đi tìm quê hương | 1967 | |
| Quê hương đau nặng | 1971 |
Giải thưởng [sửa]
- Giải thưởng Âm nhạc hoà bình thế giới (WPMA)[4].
Tham khảo [sửa]
- Ban Mai, Trịnh Công Sơn - Vết chân dã tràng NXB Lao động 2008
- Hoàng Phủ Ngọc Tường, Trịnh Công Sơn và cây đàn lya của hoàng tử bé. NXB Trẻ 2005.
Chú thích [sửa]
- ^ a b c Ban Mai, sách đã dẫn trang 24
- ^ Hoàng Phủ Ngọc Tường, sách đã dẫn trang 63
- ^ Ban Mai, sách đã dẫn trang 31
- ^ a b Ban Mai, sách đã dẫn trang 4
- ^ Bửu Chi. “Về Những Ca Khúc Phản Chiến Của TCS”. Truy cập 31 tháng 3. Đã bỏ qua tham số không rõ
|accessyear=(trợ giúp) - ^ a b Ban Mai, sách đã dẫn trang 29
- ^ Ban Mai, sách đã dẫn trang 28
|
|||||||||||