Nhật Bản

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

(đổi hướng từ Nhật bản)
Bước tới: menu, tìm kiếm
日本国
Nhật Bản Quốc
Quốc kỳ Nhật Bản Quốc huy Nhật Bản
Quốc kỳ Quốc huy
Khẩu hiệu
平和と進歩 (Hòa Bình và Tiến Bộ)
Quốc ca
Kimi Ga Yo (君が代)
Vị trí của Nhật Bản
Thủ đô
(và là thành phố lớn nhất)
Tokyo
835) 35°41′B, 139°46′Đ
Ngôn ngữ chính thức Tiếng Nhật
Chính phủ Quân chủ lập hiến
 -   • Thiên hoàng

 • Nội các tổng lí đại thần
   (Thủ tướng)
Akihito
(明仁 Minh Nhân)
Fukuda Yasuo
(福田 康夫 Phúc Điền Khang Phu)
Độc lập từ lực lượng Đồng Minh
 -   •Hiến pháp áp dụng
 • Hiệp ước được ký
 • Chủ quyền
Ngày 3 tháng 5, 1947
Tháng 9 năm 1951
Ngày 28 tháng 4, 1952 
Diện tích
 -  Tổng số 377. 835 km² (hạng 60)
 -  Nước (%) 0,8%
Dân số
 -  Điều tra 2005 127,417,244 
 -  Mật độ 337 /km² 
GDP (PPP) Ước tính 2006
 -  Tổng số $4,346 nghìn tỉ[1] (hạng 2)
 -  Theo đầu người $38, 341[2] (hạng 14)
Gini?  38,1 (2002)[3] 
HDI (2007) 0,953 (cao) (hạng 8)
Đơn vị tiền tệ Yên(JPY)(Kí hiệu quốc tế ¥ phiên âm Yen
Kí hiệu Nhật phiên âm En)
Múi giờ JST (UTC+9)
Tên miền Internet .jp
Mã số điện thoại +81
¹ Tokyo là một tỉnh, chứ không phải là thành phố. Nói chính xác hơn, Khu vực Đại Tokyo là khu vực đô thị lớn nhất, và Yokohama là thành phố lớn nhất.

Nhật Bản (tiếng Nhật: 日本国 Nihon-koku/Nippon-koku; Hán-Việt: Nhật Bản quốc; chữ Bản 本 trong các văn bản cũ cũng được đọc là Bổn), cũng được gọi tắt là Nhật, là tên của một quốc gia hải đảo hình vòng cung, có diện tích tổng cộng là 377.834 km² nằm xoải theo bên sườn phía đông lục địa châu Á. Nó nằm ở phía đông của Hàn Quốc, Nga và Trung Quốc và trải từ biển Okhotsk ở phía bắc đến biển đông Trung Quốc ở phía nam . Nhật Bản thuộc vùng ôn đới, có 4 mùa rõ rệt. Nước Nhật có 4 đảo lớn theo thứ tự từ Bắc xuống Nam là: Hokkaido (北海道) (Bắc Hải Đạo), Honshu (本州) (Bản Châu), Shikoku (四国) (Tứ Quốc) và Kyushu (九州) (Cửu Châu) cùng hàng ngàn đảo nhỏ chung quanh.

Phần lớn đảo ở Nhật Bản có rất nhiều núi và núi lửa, tiêu biểu như ngọn núi cao nhất ở Nhật Bản, núi Phú Sĩ. Nhật Bản là quốc gia có dân số lớn thứ mười thế giới với ước tính khoảng 128 triệu người. Vùng Tokyo, bao gồm thủ đô Tokyo và một vài quận xung quanh là trung tâm thủ phủ lớn nhất thế giới với khoảng 30 triệu người sinh sống.

Nhật Bản cũng là nên kinh tế lớn thứ hai toàn cầu tính theo GDP chỉ sau Hoa Kỳ. Quốc gia này là thành viên của tổ chức liên hiệp quốc, G8, G4APEC, Nhật Bản là đất nước đứng thứ 5 trên thế giới trong lĩnh vực đầu tư cho quốc phòng. Đây là đất nước xuất khẩu lớn thứ 4 thế giới và là nước nhập khẩu đứng thứ 6 thế giới. Nhật Bản là quốc gia dẫn đầu thế giới về khoa học công nghệ.

Mục lục

[sửa] Tên nước

Tên "Nhật Bản" viết theo chữ cái Latinh (Romaji) là Nihon hoặc Nippon (đọc là "Ni-hôn" hoặc "Níp-pôn"); theo chữ Hán hai chữ "Nhật Bản" có nghĩa là "gốc của Mặt Trời" và như thế, được hiểu là "xứ Mặt Trời mọc".

Nhật Bản còn có các mĩ danh là "xứ sở hoa anh đào", vì cây hoa anh đào (桜 sakura) mọc trên khắp nước Nhật từ Bắc xuống Nam, những cánh hoa "thoắt nở thoắt tàn" được người Nhật yêu thích, phản ánh tinh thần nhạy cảm, yêu cái đẹp, sống và chết đều quyết liệt của dân tộc họ; "đất nước hoa cúc" (xin xem: Hoa cúc và thanh kiếm, của Ruth Benedict, nhà dân tộc học người Mỹ năm 1946) vì bông hoa cúc 16 cánh giống như mặt trời đang tỏa chiếu là biểu tượng của hoàng gia và là quốc huy Nhật Bản hiện nay; "đất nước mặt trời mọc", vì Nhật Bản là quốc gia ở vùng cực đông, tổ tiên của họ là nữ thần mặt trời Amaterasu (天照, Thái dương thần nữ).

Vào thế kỷ thứ 4, Nhật Bản đã lấy tên nước là Yamato. Còn người Trung Quốc từ trước công nguyên đã gọi Nhật là Nụy quốc (倭国, nước lùn), người NhậtNụy nhân (倭人, người lùn), những tên cướp biển trên biển Đông Trung Hoa thời MinhNụy khấu (倭寇, giặc lùn). Do thời đó người Nhật chưa có chữ viết riêng nên Yamato được viết bằng chữ Hán 倭. Sau này, người Nhật dùng hai chữ Hán là 大和 (Đại Hòa) để biểu ký âm Yamato, thể hiện lòng tự tôn dân tộc.

Nhật Bản còn được gọi là Phù Tang (扶桑). Cây phù tang, tức một loại cây dâu. Theo truyền thuyết cổ phương Đông có cây dâu rỗng lòng gọi là Phù Tang hay Khổng Tang, là nơi thần mặt trời nghỉ ngơi trước khi cưỡi xe lửa du hành ngang qua bầu trời từ Đông sang Tây, do đó Phù Tang hàm nghĩa văn chương chỉ nơi mặt trời mọc[4].

Năm 670, năm đầu niên hiệu Hàm Hanh (670-674) nhà Đường (vua Đường Cao Tông), Nhật Bản gửi một sứ bộ đến chúc mừng triều đình Trung Quốc nhân dịp vừa bình định Cao Ly (Triều Tiên) và từ đó được đổi tên là Nhật Bản.

[sửa] Lịch sử

Bài chi tiết: Lịch sử Nhật Bản
  • Từ 15.000 năm trước công nguyên, ở Nhật Bản đã có con người sinh sống.
  • Từ 13.000 năm trước CN, người Nhật đã biết trồng lúa, làm đồ gốm[5][6][7], sống định cư.
  • Từ 300 năm trước CN đã sử dụng đồ kim khí[8][9][10][11].
  • Từ thế kỷ III đến giữa thế kỷ VI, những nhà nước đầu tiên xuất hiện. Đạo Shinto phát triển khắp cả nước. Nước Nhật bắt đầu có tên gọi là Yamato.
  • Từ thế kỷ VI đến đầu thế kỷ VIII, một nhà nước tập quyền được thành lập và đóng đô ở Asuka (gần thành phố Nara ngày nay). Tên nước từ Yamato đổi thành Nhật Bản.
  • Giữa thế kỷ VIII, đạo Phật đã thiết lập cơ sở vững chắc ở Nhật Bản[12].
  • Từ thế kỷ IX đến cuối thế kỷ XII, các dòng họ quý tộc hùng mạnh ở Heian thay nhau nắm sức mạnh chính trị của đất nước, lấn át quyền lực của Hoàng đế. Cuối thời này, tầng lớp võ sĩ bắt đầu hình thành và tranh giành quyền lực với các dòng tộc quý tộc.
  • Cuối thế kỷ XII đến đầu thế kỷ XIV, quyền lực thực sự nằm trong tay tầng lớp võ sĩKamakura. Vào các năm 1271 và 1281, các võ sĩ Nhật Bản với sự trợ giúp của bão và sóng thần đã đánh bại hải quân Mông Cổ định xâm lược nước mình.
  • Từ thế kỷ XIV đến cuối thế kỷ XVI, nước Nhật trong tình trạng mất ổn định do nội chiến và chia rẽ. Nhật Bản cũng từng xâm lược bán đảo Triều Tiên trong thời kỳ này.
  • Sau đó, nước Nhật có một thời kỳ bế quan tỏa cảng ổn định kéo dài ba thế kỷ dưới sự cai trị của các tướng quân Tokugawa. Kinh tế, văn hóa và kỹ thuật có điều kiện phát triển mạnh mẽ. Người phương Tây khởi đầu là Hà Lan được phép giao thương với Nhật Bản thông qua một thương cảng nhỏ.
  • Giữa thế kỷ XIX, Nhật mở cửa triệt để với phương Tây. Quyền lực của các Shogun và các daimyo bị bãi bỏ và được tập trung tối cao trong tay Thiên Hoàng. Công nghiệp hóa diễn ra mạnh mẽ, đất nước phát triển, xâm lăng Đài Loan, chiến tranh với Nga, xâm lược Triều Tiên[13].
  • Trong Thế chiến thứ nhất, Nhật đứng về phe đồng minh. Sang Thế chiến thứ hai, đứng về phe trục[14]. Lần đầu tiên trong lịch sử, vào năm 1945, Nhật thất bại và phải chịu sự "đô hộ" của nước ngoài[15].
  • Sau chiến tranh, Nhật tập trung phát triển kinh tế nhanh chóng. Cuối thập niên 60 Nhật hoàn thành công cuộc công nghiệp hóa, trở thành một nước tư bản phát triển. Manh nha những dấu hiệu đình trệ kinh tế đầu tiên sau khủng hoảng dầu lửa đầu thập niên 70.
  • Bước vào thế kỷ 21, Nhật ưu tiên hơn đến những chính sách quốc gia để gia tăng vị thế về chính trị và quân sự trên trường quốc tế. Nâng cấp Cục phòng vệ quốc gia thành Bộ quốc phòng vào tháng 1 năm 2007.

[sửa] Phân chia địa lí hành chính

Tỉnh Nhật Bản theo thứ tự ISO 3166-2:JP.
Tỉnh Nhật Bản theo thứ tự ISO 3166-2:JP.

Hiện tại có tám cách phân chia thông dụng các khu vực hành chính của Nhật Bản với gồm 47 tỉnh được đứng đầu bởi các Thống đốc dân bầu trực tiếp (知事,chiji) với nhiệm kì bốn năm cùng các cơ quan lập pháp và hành chính địa phương. Tokyo cũ (東京市, Tōkyō-shi) trước kia là một đơn vị thành phố tự trị có vai trò ngang với thành phố hiện nay nhưng chỉ tồn tại từ 1889 đến 1943 trước khi cho tiến hành xáp nhập với Tỉnh Tokyo lập nên Thủ phủ Tokyo vốn sau đó được chia thành 23 khu vực đặc biệt.

Nhằm tiết giảm ngân sách trong điều hành và cắt giảm số đơn vị hành chính địa phương, hiện tại công tác xáp nhập các thành phố, đô thị đang được diễn ra đặc biệt là ở khu vực làng xã nhỏ lẻ.

Nhật Bản tồn tại nhiều thành phố lớn đóng vai trò quan trọng về mọi mặt đời sống văn hóa, các di sản văn hóa kể cả tầm vóc kinh tế mà nó sở hữu.

[sửa] Địa lý Nhật Bản

Bài chi tiết: Địa lý Nhật Bản

Nhật Bản có diện tích tổng cộng là 377.834 km². Đất đai của Nhật Bản là một dãy hải đảo trải theo hình vòng cung bên cạnh phía Đông của lục địa Châu Á, dài 3.800 km. Địa hình chủ yếu là đồi núi (71%). Có nhiều núi nguồn gốc núi lửa, một số ngọn vẫn còn hoạt động, tiêu biểu là núi Phú Sĩ (Fuji) (3.776 m).

Nhật Bản có hơn 3,000 hòn đảo nhỏ và 4 đảo lớn là đảo Honshu (本州) chiếm khoảng 60% toàn thể diện tích[16], đảo Hokkaido (北海道), đảo Kyushu (九州) và đảo Shikoku (四国). Trong số các hòn đảo nhỏ, đảo Okinawa (沖縄) là lớn nhất và quan trọng nhất, nằm giữa đường kéo dài từ mỏm phía cực tây của đảo Honshu tới đảo Đài Loan. Hòn đảo Okinawa này tuy thuộc về Nhật Bản nhưng trước kia do ở khá xa phần đất chính nên đã phát triển được một thứ văn hóa riêng và một số điểm khác biệt với nếp sống của bốn hòn đảo lớn.

Sóng thần, động đất, núi lửa, bão nhiệt đới khá phổ biến ở Nhật Bản. Đặc biệt, do thuộc vành đai lửa Thái Bình Dương, Nhật Bản là một trong những vùng có nhiều động đất nhất thế giới. Mỗi năm có hàng trăm dư chấn, có những trận động đất gây tổn thất nặng nề.

Nhật Bản là một xứ sở có phong cảnh được coi là một trong những nơi đẹp nhất thế giới với bốn mùa thay đổi rõ rệt: mùa xuân với hoa anh đào nở dần từ nam lên bắc, mùa hè cây cối xanh mướt, mùa thu lá phong (momiji) đỏ thắm từ bắc xuống nam, mùa đông tuyết trắng tinh khôi. Ngọn Núi Phú Sĩ(Fujisan) cao nhất Nhật Bản, nằm giữa đồng bằng, lại có tuyết bao phủ nơi phần đỉnh núi, là nguồn cảm hứng của rất nhiều văn sĩ và thi sĩ xứ Phù Tang cũng như của các văn nghệ sĩ, trong đó có các nhiếp ảnh gia và họa sĩ khắp bốn phương.

[sửa] Khí hậu Nhật Bản

Nhật Bản nhìn từ không gian, tháng 5, 2003.
Nhật Bản nhìn từ không gian, tháng 5, 2003.

Nhật Bản là quốc gia với hơn ba nghìn đảo trải dài dọc biển Thái Bình Dương của Châu Á. Các đảo chính chạy từ Bắc tới Nam bao gồm Hokkaidō, Honshū (đảo chính), ShikokuKyūshū. Quần đảo Ryukyu, bao gồm Okinawa, là một chuỗi các hòn đảo phía Nam Kyushū. Cùng với nhau, nó thường được biết đến với tên gọi "Quần đảo Nhật Bản".

Khoảng 70%-80% diện tích Nhật Bản là núi, loại hình địa lý không hợp cho nông nghiệp, công nghiệp và cư trú. Có điều này là do độ cao dốc so với mặt nước biển, khí hậu và hiểm họa lở đất gây ra bởi những cơn động đất, đất mềm và mưa nặng. Điều này đã dẫn đến một nền mật độ dân số rất cao tại các vùng có thể sinh sống được, chủ yếu nằm ở các vùng eo biển. Nhật Bản là quốc gia có mật độ dân số lớn thứ 30 trên thế giới.

Vị trí nằm trên vành đai núi lửa Thái Bình Dương, nằm ở điểm nối của ba vùng kiến tạo địa chất đã khiến Nhật Bản thường xuyên phải chịu các dư trấn động đất nhẹ cũng như các hoạt động của núi lửa. Các cơn động đất có sức tàn phá, thường dẫn đến sóng thần, diễn ra vài lần trong một thế kỷ. Những cơn động đất lớn gần đây nhất là động đất Chūetsu năm 2004 và đại động đất Hanshin năm 1995. Vì các hoạt động núi lửa diễn ra thường xuyên nên quốc gia này có vô số suối nước nóng và các suối này đã và đang được phát triển thành các khu nghỉ dưỡng.

Khí hậu Nhật Bản phần lớn là ôn hòa, nhưng biến đổi từ Bắc vào Nam. Đặc điểm địa lý Nhật Bản có thể phân chia thành 6 vùng khí hậu chủ yếu:

  • Hokkaidō: vùng cực bắc có khí hậu ôn hòa với mùa đông dài và lạnh, mùa hè mát mẻ. Lượng mưa dày đặc, nhưng các đảo thường xuyên bị ngập bởi những đống tuyết lớn vào mùa đông.
  • Biển Nhật Bản: trên bờ biển phía Tây đảo Honshū', gió Tây Bắc vào thời điểm mùa đông mang theo tuyết nặng. Vào mùa hè, vùng này mát mẻ hơn vùng Thái Bình Dương dù đôi khi cũng trải qua những đợt thời tiết rất nóng bức do hiện tượng gió Phơn.
  • Cao nguyên trung tâm: Một kiểu khí hậu đất liền điển hình, với sự khác biệt lớn về khí hậu giữa mùa hè và mùa đông, giữa ngày và đêm. Lượng mưa nhẹ.
  • Biển Thái Bình Dương: Bờ biển phía Đông có mùa đông lạnh với ít tuyết, mùa hè thì nóng và ẩm ướt do gió mùa Tây Nam.
  • Quần đảo Tây Nam: Quần đảo Ryukyu có khí hậu cận nhiệt đới, với mùa đông ấm và mùa hè nóng. Lượng mưa nặng, đặc biệt là vào mùa mưa. Bão ở mức bình thường.

Nhiệt độ nóng nhất đo được ở Nhật Bản là 40.9 độ C - đo được vào 16 tháng 8, 2007.

Mùa mưa chính bắt đầu từ đầu tháng 5 tại Okinawa; trên phần lớn đảo Honshū, mùa mưa bắt đầu từ trước giữa tháng 6 và kéo dài 6 tuần. Vào cuối hè và đầu thu, các cơn bão thường mang theo mưa nặng.

Nhật Bản là quê hương của chín loại sinh thái rừng, phản ánh khí hậu và địa lý của các hòn đảo. Nó trải dài từ những rừng mưa nhiệt đới trên quần đảo RyukyuBonin tới các rừng hỗn hợp và rừng ôn đới lá rụng trên các vùng khí hậu ôn hòa của các đảo chính, tới rừng ôn đới lá kim (temperate coniferous forests) vào mùa đông lạnh trên các phần phía Bắc các đảo.

[sửa] Xuất xứ Nhật Bản

Hoa Anh Đào (桜; Prunus). Nhật Bản có mĩ danh là xứ sở hoa Anh Đào, vì người Nhật rất thích nên trồng cây hoa anh đào khắp nước
Hoa Anh Đào (桜; Prunus). Nhật Bản có mĩ danh là xứ sở hoa Anh Đào, vì người Nhật rất thích nên trồng cây hoa anh đào khắp nước
Hạc Nhật Bản (Grus japonensis). Loại hạc (タンチョウ tancho) rất đẹp này của hòn đảo Hokkaido đã từng làm đề tài cho các bức danh họa nhiều thế kỷ trước, nay đã bị tuyệt chủng
Hạc Nhật Bản (Grus japonensis). Loại hạc (タンチョウ tancho) rất đẹp này của hòn đảo Hokkaido đã từng làm đề tài cho các bức danh họa nhiều thế kỷ trước, nay đã bị tuyệt chủng

Cho đến nay người ta vẫn chưa chắc chắn về xuất xứ và thời gian xuất hiện của những cư dân đầu tiên trên quần đảo Nhật Bản. Tuy nhiên, hầu hết các học giả đều cho rằng người Nhật đã có mặt tại quần đảo từ xa xưa và định cư liên tục từ đó cho đến thời nay. Những phát hiện trong nghiên cứu cổ vật, xương đã củng cố thêm sự nghi ngờ đối với thuyết trước kia cho rằng người Nhật là con cháu của những người xâm chiếm đến sau "thổ dân" Ainu và đã đẩy bộ tộc này ra khỏi quần đảo. Ngày nay, người ta tin rằng tổ tiên của người Nhật là những người đã làm nên đồ gốm mang tên Jomon. Những người này được biết là đã có mặt trên quần đảo ít nhất từ năm 5000 TCN, sau đó theo thời gian, pha trộn với các giống người khác, phát triển qua lịch sử thành dân tộc Nhật Bản ngày nay.

Ngôn ngữ và phong tục của người Nhật gồm những thành tố văn hoá của cả phương Bắc lẫn phương Nam. Dưới góc độ sử dụng và cú pháp, rõ ràng tiếng Nhật thuộc hệ ngôn ngữ Altai của các dân tộc phía Bắc lục địa châu Á, song trong từ vựng lại có nhiều từ gốc từ phía Nam. Trong các tập quán và tín ngưỡng, ta thấy các lễ nghi gắn với văn hóa lúa nước vốn có nguồn gốc ở phía Nam; còn huyền thoại lập nước bởi vị thần - ông tổ của nòi giống - từ thiên đường xuống hạ giới thì có nguồn gốc ở phía Bắc. Vì vậy, người ta cho rằng dân cư ở đây có xuất xứ từ cả phương Bắc lẫn phương Nam, đến quần đảo Nhật Bản từ thời tiền sử và qua một quá trình hoà trộn các chủng tộc dần dần tạo ra dân tộc Nhật Bản.

[sửa] Chính trị Nhật Bản

Bài chi tiết: Chính trị Nhật Bản

[sửa] Hiến pháp

Bài chi tiết: Hiến pháp Nhật Bản

Hiến pháp của nước Nhật Bản, được công bố vào ngày 3 tháng 11 năm 1946 và có hiệu lực kể từ ngày 3 tháng 5 năm 1947, quy định rằng nhân dân Nhật Bản thề nguyện trung thành với các lý tưởng hòa bình và trật tự dân chủ.

[sửa] Hoàng gia Nhật Bản

Bài chi tiết: Hoàng gia Nhật Bản
Đứng (trái sang phải): Công chúa Norinomiya Sayako, Hoàng tử Akishinonomiya Fumihito, Vương phi Kiko. Ngồi (trái sang phải): Vương phi Masako, Nhật Hoàng Akihito, Công chúa Mako, Công chúa Mako Kako, Hoàng hậu Michiko, Thái tử Naruhito
Đứng (trái sang phải): Công chúa Norinomiya Sayako, Hoàng tử Akishinonomiya Fumihito, Vương phi Kiko.
Ngồi (trái sang phải): Vương phi Masako, Nhật Hoàng Akihito, Công chúa Mako, Công chúa Mako Kako, Hoàng hậu Michiko, Thái tử Naruhito

Hoàng đế của Nhật Bản hiện nay là Nhật hoàng Akihito (người Nhật gọi Hoàng đế Nhật Bản là Thiên Hoàng 天皇), sinh ngày 23 tháng 12 năm 1933 tại Tokyo, lên ngôi ngày 7 tháng 1 năm 1989. Vị thiên hoàng trước đó, cố Nhật hoàng Showa là Nhật hoàng trị vì lâu dài nhất, 62 năm và cũng sống lâu nhất, 87 tuổi, trong lịch sử của nước Nhật.

Nhật hoàng Akihito và Hoàng hậu Michiko có 3 người con (hai trai và một gái). Thái tử Naruhito sinh ngày 23 tháng 2 năm 1960, đã kết hôn với cô Masako và có một con gái. Hoàng tử Akishono có hai con gái và một con trai. Theo Hiến pháp Nhật Bản, chỉ nam giới mới được thừa kế ngai vàng.

[sửa] Cơ quan lập pháp

Tổng Thống Bush phát biểu tại Quốc hội Nhật Bản
Tổng Thống Bush phát biểu tại Quốc hội Nhật Bản

Quốc hội Nhật Bản (国会 Kokkai) là cơ quan lập pháp cao cấp nhất, gồm có Hạ viện (衆議院 shugi-in - Chúng nghị viện) với 512 ghế và Thượng viện (参議院 – sangi-in - Tham nghị viện) với 252 ghế. Hạ viện được bầu ra từ 130 đơn vị bầu cử với số nghị viên từ 2 tới 6 vị tùy theo dân số. Nhiệm kỳ của Thượng viện là 6 năm, mỗi 3 năm được bầu lại một nửa. 100 Thượng nghị sĩ được bầu theo sự đại diện tỉ lệ (proportional representation) tức là do các cử tri toàn quốc, số còn lại 152 ghế được bầu từ 47 đơn vị bầu cử tỉnh. Hạ viện có quyền bỏ phiếu tín nhiệm hay bất tín nhiệm Nội các, đây là một quyền lực chính trị quan trọng nhất của nền chính trị đại nghị. Các công dân Nhật Bản trên 25 tuổi đều có quyền ứng cử Dân biểu và trên 30 tuổi có thể tranh cử ghế Thượng viện. Quyền được thực hiện phổ thông đầu phiếu thuộc về mỗi người dân nam nữ trên 20 tuổi[17].

[sửa] Các đảng phái chính trị

Nhật Bản là quốc gia có chính quyền đa đảng phái. Những đảng phái chính trị lớn gồm có:

Để biết thêm chi tiết, xin đọc bài Đảng phái Nhật Bản.

[sửa] Các cơ quan Hành pháp và Tư pháp

Bài chi tiết: Chính phủ Nhật Bản

Quyền hành pháp được giao cho Nội các, gồm Thủ tướng và các Bộ trưởng, tất cả chịu trách nhiệm tập thể trước Quốc hội. Thủ tướng phải là một nghị viên của Quốc hội và được Quốc hội bổ nhiệm, có quyền chỉ định và bãi nhiệm các bộ trưởng, các vị sau này phải là dân sự và phần lớn là nghị viên Quốc hội.

Vào tháng 3 năm 1992, Nhật Bản có 12 bộ và 32 cơ quan (agency) với Văn phòng Thủ tướng, 1,17 triệu công chức kể cả 240 ngàn nhân viên thuộc Lực lượng Tự vệ (自衛隊, sách báo Việt Nam quen gọi là Lực lượng Phòng vệ). Ngoài ra còn có Hội đồng Kiểm toán (the Board of Audit) chịu trách nhiệm thanh tra các tài khoản quốc gia.

Nhật Bản được chia làm 47 tỉnh. Tỉnh lại được chia làm các hạt.

Cơ quan tư pháp gồm Tối cao Pháp viện, 8 tòa án cao cấp và các tòa án địa phương, tòa án gia đình. Tối cao Pháp viện gồm Chánh án được Thiên hoàng Nhật Bản bổ nhiệm và 14 vị Thẩm phán do Nội các chọn. Tất cả các vụ án đều được xét xử công khai, nhất là các vụ vi phạm chính trị, báo chí và nhân quyền.

[sửa] Kinh tế

Bài chi tiết: Kinh tế Nhật Bản
Ngân hàng trung ương Nhật Bản
Ngân hàng trung ương Nhật Bản

Nhật Bản là nước rất nghèo nàn về tài nguyên ngoại trừ gỗ và hải sản, trong khi dân số thì quá đông, phần lớn nguyên nhiên liệu phải nhập khẩu, kinh tế bị tàn phá kiệt quệ trong chiến tranh, nhưng với các chính sách phù hợp, kinh tế Nhật Bản đã nhanh chóng phục hồi (1945-1954) phát triển cao độ (1955-1973). Từ 1974 đến nay tốc độ phát triển tuy chậm lại, song Nhật Bản tiếp tục là một nước có nền kinh tế-công nghiệp-tài chính thương mại-dịch vụ-khoa học kĩ thuật lớn đứng thứ hai trên thế giới (chỉ đứng sau Hoa Kỳ)[18], GDP trên đầu người là 36.217 USD (1989). Cán cân thương mại dư thừa và dự trữ ngoại tệ đứng hàng đầu thế giới, nên nguồn vốn đầu tư ra nước ngoài rất nhiều, là nước cho vay, viện trợ tái thiết và phát triển lớn nhất thế giới. Nhật Bản có nhiều tập đoàn tài chính, ngân hàng đứng hàng đầu thế giới[19]. Đơn vị tiền tệ là: đồng yên Nhật.

Nhật Bản đang xúc tiến 6 chương trình cải cách lớn trong đó có cải cách cơ cấu kinh tế, giảm thâm hụt ngân sách, cải cách khu vực tài chính và sắp xếp lại cơ cấu chính phủ... Cải cách hành chính của Nhật được thực hiện từ tháng 1 năm 2001. Dù diễn ra chậm chạp nhưng cải cách đang đi dần vào quỹ đạo, trở thành xu thế không thể đảo ngược ở Nhật Bản và gần đây đã đem lại kết quả đáng khích lệ, nền kinh tế Nhật đã phục hồi và có bước tăng trưởng năm 2003 đạt trên 3%, quý I/2004 đạt 6%.

Thị trường chứng khoán Tokyo
Thị trường chứng khoán Tokyo

Dịch vụ ngân hàng, bảo hiểm, bất động sản, bán lẻ, giao thông, viễn thông tất cả đều là ngành công nghiệp lớn của Nhật Bản, Nhật Bản có năng lực rất lớn về công nghiệp, và đây là trụ sở của nhiều nhà sản xuất công nghệ tiên tiến bậc nhất thế giới về các sản phẩm xe có động cơ, trang thiết bị điện tử, công cụ máy móc, thép, phi kim loại, công nghiệp tàu thủy, hóa học, dệt may, thức ăn chế biến. Đây cũng là nơi đặt trụ sở của các tập đoàn đa quốc gia và nhiều mặt hàng thương mại trong lĩnh vực công nghệ và máy móc. Xây dựng từ lâu đã trở thành một trong những nền công nghiệp lớn nhất của Nhật Bản.

Nhật Bản là trụ sở của ngân hàng lớn nhất thế giới, tập đoàn tài chính Mitsubishi UFJ (Mitsubishi UFJ Financial Group) với số vốn ước tính lên đến 1.7 nghìn tỉ đô la Mỹ[20]. Nhật Bản cũng là nơi có thị trường chứng khoán lớn thứ hai thế giới - thị trường chứng khoán Tokyo với khoảng 549.7 nghìn tỉ yên vào tháng 12/2006. Đây cũng là trụ sở của một số công ty dịch vụ tài chính, những tập đoàn kinh doanh và những ngân hàng lớn nhất thế giới. Ví dụ như những tập đoàn kinh doanh và công ty đa quốc gia như Sony, Sumitomo, Mitsubishi và Toyota sở hữu hàng tỉ và hàng nghìn tỉ đô la đang hoạt động trong lĩnh vực ngân hàng, nhóm các nhà đầu tư hoặc dịch vụ tài chính như ngân hàng Sumitomo, ngân hàng Fuji, ngân hàng Mitsubishi, các định chế tài chính của Toyota và Sony.

Từ giai đoạn 1960 đến 1980, tốc độ phát triển kinh tế Nhật Bản được gọi là "sự thần kì" : tốc độ phát triển kinh tế trung bình 10% giai đoạn 1960, trung bình 5% giai đoạn 1970 và 4% giai đoạn 1980. Sự tăng trưởng suy giảm đáng kể trong giai đoạn 1990 do hậu quả của sự đầu tư quá mức suốt giai đoạn cuối thập niên 1980.

Giao thông ở Nhật Bản rất phát triển, vào năm 2004 ở Nhật Bản có khoảng 1,177,278 km (731,683 miles) đường bộ, 173 sân bay, 23,577 km (14,653 miles) đường sắt. Phương tiện đường không được hoạt động chủ yếu bởi All Nippon Airways (ANA) và Japan Airlines (JAL). Đường sắt được điều khiển bởi Japan Railways. Có rất nhiều các chuyến bay quốc tế lớn từ nhiều thành phố và đất nước trên thế giới đến và rời Nhật Bản.

Những đối tác xuất khẩu chính của Nhật là Hoa Kỳ 22.9%, Trung Quốc 13.4%, Hàn Quốc 7.8%, Đài Loan 7.3% và Hồng Kông 6.1% (2005). Những mặt hàng xuất khẩu chính của Nhật là thiết bị giao thông vận tải, xe cơ giới, hàng điện tử, máy móc điện tử và hóa chất. Do hạn chế về tài nguyên thiên nhiên để duy trì sự phát triển của nền kinh tế, Nhật Bản phải phụ thuộc vào các quốc gia khác về phần nguyên liệu vì vậy đất nước này nhập khẩu rất nhiều loại hàng hóa đa dạng. Đối tác nhập khẩu chính của Nhật là Trung Quốc 21%[21], Hoa Kỳ 12.7%, A Rập Xê Út 5.5%, UAE 4.9%, Australia 4.7%, Hàn Quốc 4.7% và Indonesia 4% (số liệu 2005). Những mặt hàng nhập khẩu chính của Nhật Bản là máy móc, thiết bị, chất đốt, thực phẩm (đặc biệt là thịt bò), hóa chất, nguyên liệu dệt may và những nguyên liệu cho các nghành công nghiệp của đất nước. Nhìn chung, Đối tác buôn bán tổng thể lớn nhất của Nhật Bản là Trung Quốc.

Nhật Bản hiện là một trong các nước có chỉ số lạm phát thấp nhất thế giới[22]
Nhật Bản hiện là một trong các nước có chỉ số lạm phát thấp nhất thế giới
Chỉ số thất nghiệp của Nhật Bản từ 1980 đến 2007[23]
Chỉ số thất nghiệp của Nhật Bản từ 1980 đến 2007

[sửa] Khoa học và công nghệ

ASIMO
ASIMO
Hệ thống tàu cao tốc Shinkansen
Hệ thống tàu cao tốc Shinkansen

Nhật Bản là quốc gia dẫn đầu thế giới trong các lĩnh vực về nghiên cứu khoa học, công nghệ máy móc, nghiên cứu y học. Gần 700,000 nhà nghiên cứu chia sẻ 130 tỉ USD của ngân sách nghiên cứu và phát triển, đứng hàng thứ 3 trên thế giới[24].

Một vài đóng góp công nghệ quan trọng của Nhật Bản là những phát minh trong các lĩnh vực điện tử, ô tô, máy móc, robot công nghiệp, quang học, hóa chất, chất bán dẫnkim loại. Nhật Bản dẫn đầu thế giới trong nghành khoa học robot, đây là quốc gia sở hữu hơn nửa (402,200 trong tổng 742,500) số robot cho công nghiệp sản xuất[25]. Nhật Bản đã phát minh ra QRIO, ASIMO và Aibo. Nhật Bản cũng là nhà sản xuất ô tô lớn nhất trên thế giới và là quê hương của 6 trong tổng số 15 nhà sản xuất ô tô lớn nhất toàn cầu[26] cũng như 7 trong số 20 nhà sản xuất chất bán dẫn lớn nhất thế giới.

Nhật Bản đang có những kế hoạch rất sáng sủa trong nghành thám hiểm không gian, trong đó có kế hoạch xây dựng một trạm mặt trăng vào năm 2030[27]. Cơ quan thám hiểm không gian Nhật Bản (JAXA) là một trong những thành viên chủ chốt của trạm vũ trụ quốc tế, đây là cơ quan chuyên nghiên cứu về không gian vũ trụ, các hành tinh, các nghiên cứu hàng không, phát triển tên lửa và vệ tinh. Đây cũng là nơi đã chế tạo ra Mô đun thí nghiệm Nhật Bản (Japanese Experiment Module), Mô đun được dự tính sẽ xuất phát và lắp ráp vào trạm vũ trụ quốc tế trong các chuyến bay lắp ráp của tàu con thoi vào năm 2007 và 2008[28].

[sửa] Quốc phòng

Hiện nay lực lượng phòng vệ (quân đội) của Nhật Bản có 18 vạn người, trong đó lực lượng hải quân mạnh nhất. Với ngân sách 50 tỉ USD/năm (kể cả chi phí cho quân đội Mỹ ở Nhật Bản), chi phí quân sự của Nhật Bản đứng hàng thứ ba sau Mỹ-400 tỷ, trên cả Nga-15 tỷ. Từ năm tài khoá 2002, ngân sách quốc phòng Nhật đã vượt con số 1% GDP, vươn lên hàng thứ hai trên thế giới[29].

Hướng phát triển quân đội Nhật Bản chủ yếu tập trung vào giảm quân số nhưng tăng chất lượng, trang thiết bị, tăng khả năng cơ động, mở rộng phạm vi hoạt động của lực lượng phòng vệ Nhật Bản, tăng cường hợp tác với Mỹ, đồng thời đẩy nhanh các biện pháp củng cố an ninh, phòng ngừa, công khai về quốc phòng qua các hoạt động, diễn đàn chung về an ninh, giải trừ quân bị; trao đổi quân sự với các nước trong ngoài khu vực.

Nhân sự kiện khủng bố 11/9, Chính phủ và Quốc hội Nhật đã thông qua 3 luật chống khủng bố gồm: Luật đặc biệt chống khủng bố, Luật sửa đổi Lực lượng phòng vệ và Luật sửa đổi Cục bảo an trên biển, cho phép Nhật lần đầu tiên sau Thế chiến thứ hai được phép cử quân đội ra nước ngoài, hợp tác với Mỹ chống khủng bố. Nhật Bản đã đưa 600 binh sĩ sang Iraq[30] thực hiện các hoạt động nhân đạo. Đây là bước chuyển mới trong chính sách quốc phòng của Nhật, từng bước tăng cường và mở rộng phạm vi hoạt động của Lực lượng phòng vệ.

Tháng 1 năm 2007, Quốc hội Nhật Bản thông qua quyết định thành lập Bộ Phòng vệ trên cơ sở Cục Phòng vệ trước đây, là bước tiến mới theo hướng giải thích lại hiến pháp và cho phép Nhật phòng thủ tập thể, đưa quân ra nước ngoài trong các chiến dịch giữ gìn hoà bình, giải quyết các xung đột khu vực.

[sửa] Dân số

Nhật Bản hiện là nước đứng đầu về nơi có ít người nước ngoài sinh sống nhất trong G7
Nhật Bản hiện là nước đứng đầu về nơi có ít người nước ngoài sinh sống nhất trong G7[31]

Dân số Nhật Bản ước tính khoảng 127.4 triệu người[32], phần lớn là đồng nhất về ngôn ngữ và văn hóa ngoại trừ thiểu số những công nhân nước ngoài, Zainichi Hàn Quốc, Zainichi Trung Quốc, người Philippines, người Nhật gốc Brazil. Tộc người chủ yếu là người Yamato cùng với các nhóm dân tộc thiểu số như Ainu hay Ryūkyūans. Nhật Bản là một trong những nước có tuổi thọ dân số cao nhất thế giới, trung bình là 81.25 tuổi cho năm 2006[33]. Tuy nhiên, dân số nước này đang lão hóa do hậu quả của sự bùng nổ dân số sau thế chiến 2. Năm 2004, 19.5% dân số Nhật trên 65 tuổi[34] .

Biểu đồ tuổi thọ dân số Nhật Bản
Thống kê hiện tại (2004)
Đơn vị: nghìn người

Tuổi Số lượng
0 - 4t Hình:g50.pngHình:g01.pngHình:g01.png 5735
5 - 9 Hình:g50.pngHình:g03.pngHình:g01.png 5938
10 - 14 Hình:g50.pngHình:g05.png 6060
15 - 19 Hình:g50.pngHình:g10.pngHình:g01.png 6761
20 - 24 Hình:g50.pngHình:g10.pngHình:g10.png 7725
25 - 29 Hình:g50.pngHình:g30.png 8755
30 - 34 Hình:g50.pngHình:g30.pngHình:g05.pngHình:g03.pngHình:g01.png 9819
35 - 39 Hình:g50.pngHình:g10.pngHình:g10.pngHình:g05.pngHình:g03.pngHình:g01.png 8662
40 - 44 Hình:g50.pngHình:g10.pngHình:g10.pngHình:g01.pngHình:g01.png 7909
45 - 49 Hình:g50.pngHình:g10.pngHình:g10.pngHình:g01.png 7854
50 - 54 Hình:g50.pngHình:g30.pngHình:g05.png 9300
55 - 59 Hình:g50.pngHình:g30.pngHình:g05.pngHình:g03.png 9640
60 - 64 Hình:g50.pngHình:g10.pngHình:g10.pngHình:g05.pngHình:g03.pngHình:g01.png 8652
65 - 69 Hình:g50.pngHình:g10.pngHình:g05.pngHình:g01.pngHình:g01.png 7343
70 - 74 Hình:g50.pngHình:g05.pngHình:g03.pngHình:g01.png 6466
75 - 79 Hình:g30.pngHình:g10.pngHình:g05.pngHình:g01.png 5098
trên 80 Hình:g50.pngHình:g03.pngHình:g01.png 5969

Biểu đồ tuổi thọ dân số Nhật Bản
Thống kê hiện tại (2004)
Theo giới tính (Đơn vị: nghìn người)

Nam Tuổi Nữ
2943 Hình:g10.pngHình:g10.pngHình:g05.pngHình:g01.png 0 - 4t Hình:r10.pngHình:r10.pngHình:r05.png 2792
3040 Hình:g10.pngHình:g10.pngHình:g05.pngHình:g01.pngHình:g01.png 5 - 9 Hình:r10.pngHình:r10.pngHình:r05.pngHình:r01.png 2898
3105 Hình:g10.pngHình:g10.pngHình:g05.pngHình:g03.png 10 - 14 Hình:r10.pngHình:r10.pngHình:r05.pngHình:r01.pngHình:r01.png 2955
3466 Hình:g30.pngHình:g01.png 15 - 19 Hình:r30.png 3295
3955 Hình:g30.pngHình:g05.pngHình:g01.png 20 - 24 Hình:r30.pngHình:r03.pngHình:r01.png 3770
4461 Hình:g30.pngHình:g10.png 25 - 29 Hình:r30.pngHình:r05.pngHình:r03.pngHình:r01.png 4294
4960 Hình:g30.pngHình:g10.pngHình:g05.png 30 - 34 Hình:r30.pngHình:r10.pngHình:r03.pngHình:r01.png 4859
4359 Hình:g30.pngHình:g05.pngHình:g03.pngHình:g01.png 35 - 39 Hình:r30.pngHình:r05.pngHình:r03.pngHình:r01.png 4303
3976 Hình:g30.pngHình:g05.pngHình:g01.png 40 - 44 Hình:r30.pngHình:r05.pngHình:r01.png 3933
3936 Hình:g30.pngHình:g05.pngHình:g01.png 45 - 49 Hình:r30.pngHình:r05.png 3918
4633 Hình:g30.pngHình:g10.pngHình:g01.pngHình:g01.png 50 - 54 Hình:r30.pngHình:r10.pngHình:r01.pngHình:r01.png 4667
4762 Hình:g30.pngHình:g10.pngHình:g03.png 55 - 59 Hình:r30.pngHình:r10.pngHình:r03.pngHình:r01.png 4878
4193 Hình:g30.pngHình:g05.pngHình:g03.png 60 - 64 Hình:r30.pngHình:r10.png 4459
3484 Hình:g30.pngHình:g01.png 65 - 69 Hình:r30.pngHình:r05.png 3859
2951 Hình:g10.pngHình:g10.pngHình:g05.pngHình:g01.pngHình:g01.png 70 - 74 Hình:r30.pngHình:r01.pngHình:r01.png 3515
2168 Hình:g10.pngHình:g05.pngHình:g03.pngHình:g01.png 75 - 79 Hình:r10.pngHình:r10.pngHình:r05.pngHình:r01.png 2930
1902 Hình:g10.pngHình:g05.pngHình:g01.pngHình:g01.png trên 80 Hình:r30.pngHình:r05.pngHình:r01.pngHình:r01.png 4067


Thay đổi dân số đã tạo ra các vấn đề xã hội, đặc biệt là sự suy giảm lực lượng lao động đồng thời gia tăng chi phí cho phúc lợi xã hội như vấn đề lương hưu. Nhiều người trẻ Nhật Bản hiện có xu hướng không kết hôn hoặc có gia đình khi trưởng thành. Dân số nước Nhật Bản dự tính sẽ giảm xuống còn 100 triệu người vào năm 2050 và 64 triệu người vào năm 2100[34] Chính quyền và các nhà hoạch định dân số đang đau đầu để giải quyết vấn đề này.[35].

Nhập cư và gia tăng khuyến khích sinh đẻ đang được xem là giải pháp để cung cấp lực lượng lao động cho sự lão hóa của dân số nhằm duy trì sự phát triển của nền kinh tế khổng lồ lớn thứ hai trên thế giới[36] [37].

Cổng chào Shinto tại Fushimi Inari-taisha, Kyoto.